CHƯƠNG 1: CO SO LY LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA NG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về “năng lì tuy nhiên quan niệm về năng lực vẫn chưa có sự thống nhất. Như đã trình bày ở trén, McClelland duge cho là người đầu tiên đưa ra khái niệm năng lực cá nhân vào đầu những năm 1970. ông, năng lực hay đặc điểm cá nhân được coi là nhân tố quan trọng dự báo về kết quả công việc và sự thành công của nhin vién (McClelland, 1970) Bolt (1987) định nghĩa năng lực “là sự kết hợp đồng thời những kiến thức, ky năng và thái độ cần có để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao”. Khái niệm này đã tiếp cận năng lực dựa trên các yếu tố cấu thành.
Tuy nhiên, phân biệt năng lực với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Kiến thức là những điều hiểu biết có được do từng trải, hoặc do học tập, có thể thu nhận được thông qua quá trình sinh hoạt, học tập từ sách vỡ và học hỏi từ người khác. Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế, nói cách khác là sự vận dụng, áp dụng bước đầu những kiến thức có được vào. thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó.
Kỹ xảo là sử dụng kĩ năng ở mức độ cao. siêu, thuần thục. Hơn 10 năm sau, Amartya Sen có đưa ra khái niệm khác, cụ thể hơn về năng lực. Theo ông, năng lực là tổ hợp khả năng thực hiện các chức năng (hay đạt được.
Nói cách khác, năng lực là sự tự do hiện thực mà con người được thụ hưởng để cuộc sống có ý nghĩa (Amartya Sen, 1999). “Trong các lĩnh vực khác nhau, năng lực cũng có các định nghĩa khác nhau. Dưới góc độ giáo dục học, vấn đề năng lực được đề cập thông qua năng lực sáng tạo, năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học,. cho đối tượng cụ thể như học sinh các cấp tiêu học, trung học cơ sở, trung học phô thông.
hay sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Theo Bùi Thị Hường (2007) trong bài "Kích thích năng lực tư duy người học” cho rằng, năng lực là “khả năng. bên trong của mỗi con người, khả năng tạo ra một sức mạnh vượt trội với nhóm, với công đồng, biết làm chủ bản thân và lôi cuốn người khác vào hoạt động đạt hiệu quả cao”. Theo đó, năng lực người học là một khái niệm không đơn giản bao gồm các thành tố như sau: Năng lực là trình độ người học đạt đến một học vấn nhất định; Năng lực là khát vọng, ý chí vươn lên của người học sẵn sàng đón nhận kiến thức.
mới; Năng lực là khả năng biến Tri thành Hành tức là biết dùng vốn tri thức đã thu nạp được để giải quyết các yêu cầu thực tiễn theo luật tối ưu. Khác với các cách tiếp cận trên, theo triết học, năng lực và phát triển năng lực được coi như một mặt, một yếu tố trong phát triển con người; một yếu tố cấu. thành nên phẩm chất, nhân cách của con người. ‘Theo Trần Thị Minh Hang (201 1) thì bàn về năng lực có hai khuynh hướng.
Khuynh hướng thứ nhất xem năng lực như là một điều kiện tâm lí của cá nhân đề hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó. Khuynh hướng thứ hai xem năng lực 1à những thuộc tính cá nhân, bao gồm cả những thuộc tính tâm lí và cả những thuộc tính giải phẫu. Tựu chung lại, năng lực là tổng hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm bảo. đảm việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy.
‘Voi sự tham khảo các khái niệm trên, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sử dụng “năng lực với ý nghĩa như sau: “Năng lực được hiểu là những khả năng và trình độ chuyên môn của cá nhân nhờ đó họ có khả năng hoàn thành một công việc với chất lượng cao”. Có thể nói, năng lực có vai trò quan trọng đối với hiệu quả công việc. Với mỗi vị trí công việc khác nhau sẽ có những yêu cầu, đòi hỏi về cắp độ năng lực khác nhau. Việc xác định những năng lực cần thiết và cấp độ cho những năng lực này.
phù hợp với vị trí công việc sẽ giúp các nhà quản lý có những giải pháp trong tuyển dụng, đào tạo và phát triển phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự của minh từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.Vai trò của việc đánh giá năng lực 1.1 Đối với người lao động. Việc tiến hành đánh giá năng lực của người lao động giúp cho người lao đông nhận thức, đánh giá được năng lực của chính bản thân mình trong công việc, hiệu quả công việc họ đem lại cho doanh nghiệp, giúp họ chủ động tìm kiếm các biện pháp, phương pháp, công cụ dé nâng cao năng lực làm việc phủ hợp với nhu cầu, mong muốn của bản thân và khả năng phát triển của doanh nghiệp. Người có năng lực cao có thể nâng cao giá trị bản thân so với những người lao động khác, có cơ hội nhận được sự thay đổi hoặc đãi ngộ tích cực từ người sử dụng lao động như tăng lương, tiền thưởng, thăng chức. Người có năng lực thấp, chưa đạt yêu cầu.
cần tìm cách để cải thiện năng lực của mình nếu không muốn bị trừ lương, thậm chí Tà s thải. Việc đánh giá năng lực của người lao động một cách đúng đắn, khoa học sẽ tạo động lực làm việc cho người lao động, giúp họ làm việc hiệu quả hơn, đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu một tổ chức không thực hiện. đánh giá năng lực làm việc hoặc tiến hành đánh.
giá một cách hời hợt, dựa trên sự đánh giá chủ quan của người đánh giá thì sẽ gây ra các hệ lụy như người lao động với năng lực, công sức làm việc khác nhau có thể sẽ được hưởng các chế độ đãi ngộ như nhau hoặc việc thăng chức chỉ căn cứ theo thâm niên hoặc theo ý muốn chủ quan của người sử dụng lao động. Như vậy, về lâu dài sẽ làm giảm động lực làm việc của họ, tạo ra tâm lý ÿ lại, ức chế, không nỗ lực phán đầu trong công việc.Đối với người sử dụng lao động và doanh nghiệp Đánh giá năng lực của người lao động là một bộ phân quan trọng trong quản trị nhân lực, giúp doanh nghiệp có cơ sở để hoạch định, tuyển dụng, đảo tạo và bồi dưỡng nhân sự. Dựa vào kết quả của việc đánh giá, người sử dụng lao động sẽ có. những kế hoạch, phương pháp phù hợp để sử dụng, điều chỉnh và bố trí lao động.
một cách hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp, “giữ chân” và thu hút được những người lao động có chất lượng cao, có các biện pháp đào tạo, nâng cao. tay nghề với những người lao động có năng lực thấp, đáp ứng đòi hỏi của công việc. Từ đó, giúp doanh nghiệp có thẻ phát triển hệ thống trả lương theo kết quả, phù hợp. 10 với năng lực, công sức của các nhân viên trong doanh nghiệp.
Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ chủ động trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh, định giá, định vị chính xác doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.Khung năng lực 1.Khái niệm khung năng lực. Mỗi công việc khác nhau sẽ có những yêu cầu khác nhau về năng lực để. hoàn thành tốt công việc. Tập hợp những yêu cầu năng lực này gọi là khung năng lực.
Khung năng lực là một công cụ của quản lý nhân sự, nó được đưa vào sử dụng. trên thế giới từ rất sớm, vào khoảng những năm 90 của thể kỷ 20. Theo nghiên cứu. Mansfield (1996), “Building competency models: Approaches for HR professionals” da dinh nghia Khung nang Ive 1a céng cy mé ta chi tiết về những.
hành vi và tính cách của nhân viên để thực hiện hiệu quả công việc. Hay như nghiên cứu của Anntoinette D. Lucia and Richard Lepsinger (1999), *The Art and Science of Competency Models” da chỉ ra rằng khung năng lực là sự kết hợp đặc biệt các kỹ năng, kiến thức và đặc điểm cá nhân cần có để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ công việc. ‘Theo quan điểm của tác giả Ngô Quý Nhâm (2015), khung năng lực là một công cụ mô tả trong đó xác định các yêu cầu vẻ kiến thức, kỹ năng, khả năng, thái độ, hành vi và các đặc điểm cá nhân khác để thực hiện các nhiệm vụ trong một vị trí, một công việc hay một ngành nghề.
Khung năng lực thực chất là một tô hợp các năng lực đồng thời quyết định đến khả năng hoàn thành một vị trí hay công việc. Trang web MindTools cũng có một định nghĩa gần tương tự: “Khung năng lực là những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết cho những người trong một tổ chức. Mỗi vị trí sẽ có bộ năng lực riêng cần thiết để thực hiện công việc một cách hiệu quả. Để làm được điều đó, mỗi cá nhân cần có sự hiểu biết sâu sắc về vai trò vị trí của mình trong doanh nghiệp” Participatoryartsleaming.wordpresscom - một website khác cũng trích dẫn một quan điểm về khung năng lực: “Khung năng lực là một mô hình rộng định nghĩa các kế hoạch chỉ tiết đề thực hiện 'xuất sắc" công việc " trong một tô chức hoặc lĩnh vực.
Nói chung, khung sẽ bao gồm một số năng lực, có. thể được áp dụng chung cho một rất nhiều vị trí. Sau đó, mỗi năng lực này được xác định theo cách làm cho chúng phù hợp với mục tiêu của tổ chức hoặc ngành, ngôn ngữ được sự dụng phải đảm bảo để mọi người đều có cách hiểu giống nhau. biết chung này sau đó trở thành tiêu chuẩn để một cá nhân, nhóm, dự án, hoặc thậm chí toàn bộ tô chức cần đạt được và có thể được đánh giá.
Sau khi tham khảo các khái niệm, kết hợp với khái niệm năng lực đã để cập. từ trước, theo tác giả, “Khung năng lực là bảng mô tả về những khả năng và trình độ. chuyên môn mà một cá nhân cần có đẻ hoàn thành tốt công việc tại vị trí của mình”. Với tác dụng của nó, khung năng lực có rất nhiều vai trò quan trọng, nhất là đối với người quản lý, người sử dụng lao động.
Khung năng lực có thể góp phần. nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tổ chức.