CHƯƠNG 1 iG VAN DE CO BAN VE VON VA HIEU QUA SU DUNG VON TAI DOANH NGHIEP 1. Tổng quan về vốn và nguồn vốn tại doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của vẫn 1.1 Khái niệm vẫn “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tải sản, có trụ sở giao dịch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”(T?ích Luật doanh nghiệp, 2014). Tuy nhiên đề tiến hành bắt cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần đến vốn.
Vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quan điểm của các học thuyết kinh tế cỗ điển và cỗ điển mới, cho rằng vốn là một trong những yếu t lầu vào đề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: đất đai, lao động. Vốn là các sản phẩm được dùng để phục vụ cho sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. Như vậy theo quan điểm nay vốn chủ yếu được xét dưới góc độ hiện vật.
Theo các nhà kinh tế học hiện đại: David Begg, Stanlei Ficher, Rudiger Dambusch, vốn gồm hai loại là vốn hiện vật và vốn tài chính. Trong cuốn * Kinh tế học - David Begg” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trừ các hàng hóa đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp được dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo cuốn giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Quản trị kinh doanh thì ‘én trong các doanh nghiệp là mí quỹ tiền tệ đặc biệt”. Tiền được gọi là vốn khi tiền đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau: ~_ Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định (tức là tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực). ~ Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ đ hành hoạt động kinh doanh. ~ Khi có đủ về lượng, tiền phải được vận đông nhằm mục đích sinh lời.
Điều kiện 1 và 2 được coi là điều kiện cần để tiền trở thành vốn và điều kiện 3 là đặc trưng cơ bản nhất của vốn (điều kiện đủ). Bởi khi tiền không vận. động thì đó là đồng tiền “chết” còn nếu vận động mà không sinh lời thì cũng. không phải là vốn.
Sự vận động của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện như sau: TLLĐ H_ ~->SLÐ ĐTLĐ. Sau đó, đối tượng. lao động (ĐTLĐ) và thuê sức lao động (SLĐ) để phục vụ cho quá trình sản xuất. Khi quá trình sản xuất được tiến hành, tạo ra sản phẩm hàng hóa và vốn tồn tại dưới dạng tư bản hàng hóa.
Cuối cùng khi tiêu thụ hàng hóa xong, vốn tê. Trong quá trình vận trị T'>T. trị lớn hơn thì vốn không hiệu quả. Do đó, trong quá trình vận động tuần hoàn thì vốn phải được bảo toàn giá trị và lớn dần lên.
'Như vậy, có thể rút ra kết luận “Von là biểu hiện bằng tiễn của của toàn bộ tài sản được huy động, sử dung vào hoạt độngsản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” (Trích từ “Giáo trình tài chính doanh nghiệp" NXP tài chính năm 2008) 1. Đặc điểm của vốn ~ Vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định 'Vốn là biểu hiện bằng tiền cho giá tri của những tải sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, nguyên vật liệu, bằng phát minh sáng. nhưng vốn không đồng nhất với hàng hóa, tiền tệ thông thường. Tiền tệ, hàng hóa là hình thái biểu hiện của vốn nhưng chỉ khi chúng được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời chúng mới được coi là vốn.
Với tư cách là vốn, các tải sản của doanh nghiệp tham gia vào. quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó không bị mắt đi mà được thu hồi giá trị. Nhận thức được đặc trưng này của vốn, các doanh nghiệp tìm mọi cách để khai thác, sử dụng biến vốn tiềm năng thành vốn hoạt động. ~ Vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời 'Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng về vốn.
Để tiền trở thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời.Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của tuần hoàn là tệ với giá trị lớn hơn (T- H-T). Đó là nguyên lý đầu tư, sử dụng va bao toàn vốn. ~ Vốn phải gắn với chủ sở hữu Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được chỉ tiêu tiết kiệm, hiệu quả.
Ở đây, cần phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn. Tùy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu hay người sử dụng có thê đồng nhất hay tách rời, song dù trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên, đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong huy động và sử dụng vốn. Nó cho phép huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời quản, đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu qua.
'Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng, Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phải tập trung lượng vốn đủ lớn để mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh và chủ động trong các phương án sản xuất kinh doanh. Do đó, các doanh nghiệp ngoài việc tự huy động vốn còn phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác nhau như: phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu, liên doanh liên kết. nhu cầu hoạt động kinh doanh ở một quy mô nhất định. ~ Vốn có giá trị về thời gian Ngoài yếu tố đầu tư sinh lời, giá trị của đồng tiền còn chịu ảnh hưởng.
của yếu tố đầu tư, lạm phát, chính trị. trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đặc trưng này của vốn dường như không được quan tâm, xem xét kỹ lưỡng. 'Việc Nhà nước giao vốn, giao kế hoạch sản xuất, cung cấp nguyên vật liệu, bao. tiêu toàn bộ sản phẩm và vô hình chung đã tạo ra sự ồn định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách giả tạo, không đánh giá đúng mức đội bảo toàn hay phát triển của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị thời gian của vốn ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh cũng như giá trị của doanh nghiệp. Nhận thức được đặc trưng này không những giúp doanh nghiệp so sánh kết quả kinh doanh một cách đơn thuần mà phải tìm biện pháp bảo toàn vốn. Phân loại vốn Vốn của doanh nghiệp có thê được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Với mỗi tiêu thức, vốn sẽ được nhìn nhận và xem xét dưới mỗi góc độ khác nhau, từ đó thấy được các hình thái vận động của vốn, đặc tính của vốn để sử dụng vốn có hiệu qua.Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của vốn Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển, vốn được chia thành 2 loại là vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định ~ Vốn có định của doanh nghiệp là số vốn đầu tư được ứng trước để mua. sắm, xây dựng „ hình thành nên tài sản có định của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Tai sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, giữ vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu, bị hao mòn dần và giá trị của chúng chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm trong mọi chủ kì sản xuất. Đặc điểm vận động của TSCĐ quyết định đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển ốn cố định.
Từ đó, có thể khái quát sự vận động của vốn cố định như sau + Trong quá trình sản xuất, giá trị của vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu ki kinh doanh. + Sau nhiéu chu kỳ sản xuất vốn cỗ định mới hoàn thành một vòng luân chuyển khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn cố định được luân chuyển vào giá trị sản phẩm tăng lên, phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ sẽ giảm đi tương ứng cho đến khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng giá trị của nó được dịch chuyển hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn có định mới hoàn thành một vòng luân chuyên Từ những đặc điểm trên của vốn có định đỏi hỏi việc quản lý vốn định phải luôn gắn liễn với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TC của doanh. Vốn lưu động ~ Vốn lưu động của doanh nghiệp: là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh.
nghiệp bỏ ra đề đầu tư, mua sắm hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp. “Tài sản lưu động là đối tượng lao động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, mà đặc điểm của chúng là luân chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần vào chỉ phí sản xuất kinh doanh. Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn thay thé cho nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục và thuận lợi.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tải sản lưu động. Do đó để hình thành nên các tài sản lưu động doanh nghiệp phải ứng. trước một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tải sản đó. Số vốn này gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
'Vốn lưu động của doanh nghiệp có một số đặc điểm sau: + Do vốn lưu động vận động liên tục qua nhiều hình thái khác nhau bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư, hàng hoá sản xuất, lưu thông và cuối cùng trở về hình thái tiền tệ ban đầu sau một chu kỳ kinh doanh.