CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE CHAT LUQNG DICH VU VA DICH VU INTERNETBANKING Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ và dịch vụ Internetbanking, giúp người đọc hiểu được một số vấn đề như: - Chất lượng dịch vụ được hiều là là mức độ phù hợp của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu định ra hoặc định trước của người mua. Qua đó, chất lượng dịch vụ chính là sự đánh giá của khách hàng về hoạt động của dịch vụ và những gì khách hàng nhận được từ dịch vụ. Chất lượng dịch vụ chỉ có thể được đo lường thông qua thái độ, cảm nhận, sự thỏa mãn của con người về dịch vụ đó. ~ Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá và cảm nhận của khách hàng về các dịch iv vu ma khách hàng sử dụng đáp ứng các nhu cầu giao dịch.
Chất lượng dịch vụ thê hiện qua chuỗi các lợi ích mà dịch vụ làm thỏa mãn khách hàng trong quá trình ngân hàng cung ứng và khách hàng sử dụng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ ở mỗi ngân hàng chịu tác động bởi nhận thức của mỗi khách hàng về dịch vụ nên chất lượng dịch vụ giữa các ngân hàng rất khác biệt, khó có thể kiểm tra và đo lường. Làm rõ một số mô hình về chất lượng dịch vụ như: ~ Mô hình SERVQUAL của Parasuraman: Trên cơ sở mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos (1984) Năm 1985, Parasuraman & ctg đã cho ra đời mô hình SERVQUAL để đo lường chất lượng dịch vụ bằng cách so sánh giữa các giá trị kỳ vong/mong đợi của khách hàng và các giá trị mà khách hàng cảm nhận được về dịch vụ, tức là chất lượng dịch vụ = Sự cảm nhận - Sự kỳ vọng. - Mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor: Dựa trên mô hình SERVQUAL của Parasuraman et al, vào năm 1992, Cronin cùng Taylor đã xây dựng mô hình SERVPERF và cho rằng mức độ cảm nhận của khách hàng đối với sự thực hiện địch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ, tức là chất lượng dịch vụ = sự cảm nhận.
~ Mô hình các nhân tố chất lượng dịch vụ dựa trên sự hài lòng của Johnston: Xuất phát từ báo cáo kết quả phản hỏi về sự không hài lòng của khách hàng đối với ngành dịch vụ Ngân hàng ở Anh ngày càng tăng, mặc dù các Ngân hàng đã có nhiều cố gắng cải thiện dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Johnston (1997) đã tiến hành phân tích đánh giá sự tác động của các sáng kiến cải tiến chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng và không hài lòng của khách hàng và đề xuất mô hình gồm 18 yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ của Ngân hàng. Dịch vụ Internetbanking: Theo bách khoa mở toàn thư (WIKIPEDIA), dịch vu Internet banking là dịch vụ mà khách hàng có tải khoản tại một tổ chức tài chính có thể thực hiện các giao dịch trực tuyến thông qua Internet với trang web của tổ chức này, tô chức tài chính có thể là NHTM hoặc loại hình tổ chức tài chính khác. 'Theo Thông tư số 29/201 1/TT-NHNN ngày 21/9/2011 quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet, dịch vụ Internet - banking được v hiểu là dịch vụ ngân hàng được cung cấp qua mạng Internet, gồm thông tin về đơn vị cung cấp dịch vụ và các dịch vụ của đơn vị, dịch vụ tra cứu thông tin, thực hiện các giao dịch tài chính trực tuyến và các dịch vụ khác theo quy định của NHNN.
Để nâng cao chất lượng dịch vụ Internetbanking, ngân hàng cần thực hiện các giải pháp nhằm rà soát, xây dựng và phát triển dịch vụ Internetbanking tại ngân hàng, gồm bồ sung các tiện ích, cải thiện tốc độ xử lý giao dịch, gia tăng sự an toàn chính xác, phát triển nguồn nhân sự phụ trách trong dịch vụ, đẩy mạnh chính sách hậu mãi, đáp ứng ngày càng tối ưu các nhu cầu khách hàng đặt ra khi đăng ký và sử dụng dịch vụ cũng như gia tăng các lợi ích khác cho ngân hàng như gia tăng hiệu quả hoạt động, phát triển thị phần, nâng cao vị thế cạnh tranh,.Ngân hàng sẽ cải tiến, bỗ sung những chính sách nâng cao chất lượng dịch vụ Internetbanking cụ thể trong từng giai đoạn khác nhau phù hợp với tình hình thị trường. Bên cạnh đó, cũng cần có những chính sách, định hướng hỗ trợ từ các cơ quan Nhà nước để việc nâng cao chất lượng dịch vụ được thống nhất. Để bắt kịp xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, các NHTM đã đẩy mạnh phát triển dịch vụ Internetbanking. Với ưu điểm là giao dịch nhanh chóng, mọi lúc mọi nơi, phù hợp với nhịp sống công nghiệp, các ngân hàng biết rằng hoạt động của dịch vụ sẽ rất có triển vọng trong thời gian tới.
Lợi ích của dich vy Internetbanking ~ Lợi ích đối với ngân hàng + Tiết kiệm chỉ phí kinh doanh + Kênh giao dịch qua Internetbanking nhằm đa dạng hóa danh mục sản phẩm. của Ngân hàng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, tăng tính cạnh tranh, duy trì và thu hút thêm các khách hàng tiềm năng. + Việc phát triển các dịch vụ qua kênh Internetbanking góp phần khắc phục. những hạn chế về địa lý so với kênh phân phối truyền thông qua địa điểm giao dịch và ATM.
+ Mang lại nguồn thu phí hiệu quả, lâu dài cho Ngân hàng như: phí thường niên, phí giao dịch (phí chuyển tiền, thanh toán hóa đơn.), nguồn huy động vốn vi qua dịch vụ gửi tiết kiệm online. + Khi khách hàng hải lòng về dịch vụ mà họ sử dụng thì sự hài lòng của khách hàng sẽ lan tỏa nhanh chóng thông qua các kết nối của công nghệ số, làm cho số người biết đến ngân hàng sẽ tăng lên theo cấp số nhân. Trong quá trình cung cấp dịch vụ Internetbanking, nếu dịch vụ đó chiếm được cảng nhiều sự hài lòng của khách hàng sẽ cảng có thêm cơ hội mở rộng thị phần hoạt động, tạo dựng được hình ảnh, thương hiệu trên toàn thế giới mà không phải tốn kém nhiễu chỉ phí cho đầu tư phát triển thương hiệu. Dịch vụ Internetbanking giúp Ngân hàng gia tăng hiệu quả số lượng khách hàng, gia tăng nhu cầu của các khách hàng hiện có.
+ Tăng khả năng tìm kiếm, khai thác thông tin và xử lý chứng từ + Ngoài ra, việc phát triển dịch vụ Internetbanking còn mang lại cho khách hàng ấn tượng tốt đẹp về các sản phẩm, dịch vụ của BIDV với hình ảnh hiện đại, tiên tiến và thân thiện. - Lợi ích đối với khách hàng + Không cần phải trực tiếp đến các quay giao dịch của Ngân hàng để thực hiện giao dịch mà có thể xử lý thông qua máy tính, thiết bị di động thông minh có kết nối Internet ở bắt kỳ đâu khách hàng muốn. Tiết kiệm được chỉ phí thời gian, chỉ phí giao dịch, không phải chờ đợi. + Các giao dịch được thực hiện nhanh chóng, an toàn và nhiều tiện ích Lợi ích đối với nền kinh tế: + Việc quản lý của Nhà nước thông qua NHNN sẽ chặt chẽ hơn + Góp phần thực hiện tốt đề án thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, Giảm được những chỉ phí liên quan đến phát hành và sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế + Thúc đây phát triển hệ thống công nghệ thông tin và các hoạt động kinh tế trong nước và cả trên thể giới + Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ~ Các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ Internetbanking Dựa trên cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu trước đây về dịch vụ, tác giả luận văn căn cứ vào mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor dé xay dựng mô.
vii hình đo lường chất lượng dịch vu Internet banking của BIDV Lạng Sơn được hình thành gồm năm chỉ tiêu chính sau đây: Cơ sở vật chất, công nghệ. Khả năng thực hiện giao dich Khả năng sẵn sàng Chất lượng dịch vụ thực hiện giao dịch 'Năng lực của nhân viên ngân hàng. Sự am hiệu khách hàng ~ Các nhân tổ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Internetbanking. + Các nhân tổ thuộc về môi trường.
— Điều kiện tự nhiên, xã hội — Chính trị pháp luật — Trình độ, thu nhập của người dân + Các nhân tổ thuộc về ngân hàng — Cơ sở hạ tầng. công nghệ thông tin và viễn thông — Nhân tố nguồn nhân lực + Nhân tổ công tác tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ — Chính sách marketing và bán hàng. — Chính sách quản lÿ rủi ro + Nhân tố hoạt động của ngân hàng. viii CHUONG 2 THUC TRANG CHAT LUQNG DỊCH VỤ INTERNETBANKING CUA BIDV LANG SON Trong chương 2, tác giá đi sâu phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ Internetbanking của BIDV Lạng Sơn.
~ Chỉ nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Lạng Sơn là một đơn vị thành viên của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tiền thân là Phòng. Cấp phát vốn kiến thiết cơ bản thuộc Ty tài chính tỉnh Lạng Sơn được thành lập ngày 01/07/1960. Trải qua 58 năm hoạt động, trưởng thành và phát triển, với những thăng trằm của mình gắn liền với những chặng đường lịch sử của đất nước đã có 8 lần chia tách, sáp nhập và thay đồi tên gọi để phù hợp với từng thời kỳ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. - Cơ cầu tô chức bộ máy quản lý của BIDV Lạng Sơn được thực hiện theo quyết định số 1256/QĐ-HĐQT, ngày 01 tháng 8 năm 2013 của Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam v/v phê duyệt mô hình tổ chức mẫu đối với các Chi nhánh thuộc hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Theo mô hình tổ chức, Ban giám đốc gồm 4 người.
Giám đốc phụ trách chung và trực tiếp phụ trách khối quản lý rủi ro và Phòng kế hoạch tài chính thuộc khối quản lý nội bộ. 01 phó giám đốc phụ trách khối quản lý khách hàng (Khách hàng doanh nghiệp) và 1 phần Khối quản lý nội bộ. 01 phó giám đốc phụ trách khối tác nghiệp. 01 phó giám đốc phụ trách khách hàng cá nhân và Khối trực thuộc.
Bảo đảm tách bạch giữa 3 khâu: Quan hệ khách hàng - Phê duyệt rủi ro - Tác nghiệp.