CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VÈ KIÊM SOÁT HOẠT ĐỌNG CHUYEN GIÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI 1.1 TÔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.11 Khái niệm và đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước. Trong khái niệm này, thật sự không có sự đầu tư gia tăng về kinh tế hay một sự chuyển giao ròng giữa các quốc gia mà đơn thuần chỉ là một sự đi chuyển tư bản từ quốc gia này sang. quốc gia khác. Các công ty nắm quyền kiểm soát hoạt động ở nhiều quốc gia.
được xem như các công ty đa quốc gia, các công ty xuyên quốc gia hay các công ty toàn cầu. Sự phát triển hoạt động của các công ty này chính là động lực thúc đây sự phát triển trong thương mại quốc tế thông qua hình thức đầu. tư trực tiếp vào các quốc gia khác trên thể giới. “Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QHI 1 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của các cá nhân hay công.
tày vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyển quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này; là sự đầu tư thông qua sản xuất, cung cấp dịch vụ, buôn bán tại nước nhận đầu tư. Hình thức đầu tư này thường dẫn đến sự thành lập một pháp nhân riêng như công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài hay chỉ nhánh công ty nước ngoài Khác với loại hình đầu tư gián tiếp, FDI có những đặc điểm sau đây: - FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà bên cạnh đó. còn có cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết công nghệ, năng lực thị, kinh nghiệm quản lý.
- _ Việc tiếp nhận FDI chẳng những không làm gia tăng gánh nặng nợ cho. nước tiếp nhận đầu tư mà còn tạo điều kiện để phát huy tiềm năng kinh tế; ~_ Chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty đa quốc gia, chiếm 90% khối lượng FDI trén toàn thế giới. Phần còn lại của FDI thuộc về các nhà nước và các tổ chức quốc tế khác. Các hình thức đầu tw FDI * Hình thức hợp đằng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận.
đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ. nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp. nhân mới nào. Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm.
- Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyển lợi và nghĩa vụ. - Không thành lập một pháp nhân mới. tức là không cho ra đời một công ty mới. ~ Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do bai bên thoả thuận, phù 'hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cẩn thiết dé hoàn thành mục tiêu.
của hợp đồng. ‘Van dé vén kinh doanh không nhất thuyết phải được để cập trong văn. bản hợp đồng hợp tác kinh doanh. * Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh: Xí nghiệp hay công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu tư.
và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia, một xí nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh. Đặc điểm của hình thức liên doanh này là: - Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn. - Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp. liên doanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước.
~ Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỉ lệ góp vốn. * Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vẫn từ nước ngoài: Đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm vẻ kết quả kinh doanh. Đặc điểm của các công ty này. - Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư.
~ Hoạt động dưới sự chỉ phối của Luật pháp nước nhận đầu tư. * Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.T thường được chính phủ các nước đang phát triỂn tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cắp cơ sở hạ tầng kinh tế.13 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - Hình thức hoạt động chủ yếu. của các các công ty đa quốc gia Công ty đa quốc gia - Multinational Corporations (MNC) hoặc Multinational Enterprises (MNE) là công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ không chỉ nằm gói gọn trong lãnh thổ của một quốc gia mà hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ trải dai ít nhất ở hai quốc gia và có công ty có mặt lên đến hơn trăm quốc gia khác nhau. Ban đầu, các công ty đa quốc gia cũng được thành lập tại một quốc gia tức là công ty quốc gia.
Công ty quốc gia này mang quốc tịch của một nước. 10 và vốn đầu tư vào công ty này thuộc quyền sở hữu của các nhà tư bản nước sở tại. Công ty quốc gia này kinh doanh ngày càng phát triển và hàng hóa, dịch vụ do công ty này sản xuất ra ngày càng nhiều và chất lượng. Vì vậy mà nhu cầu mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm của công ty là tắt yếu.
Lúc bấy giờ, thị trường các nước lân cận hay các nước có nhu cầu sản phẩm của công. ty trở nên thật hấp dẫn. Các công ty này sẽ bắt đầu tiến hành mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sang các thị trường này bằng cách xuất khẩu các sản. Thị trường ngày càng được mở rộng vì vậy mà các công ty bắt đầu.
nghĩ đến việc mở rộng sản xuất kinh doanh sang các nước lân cận, các nước. mà có nhu cầu sản phẩm của công ty nhiều. Do quá trình phát triển thị trường. tiêu thụ, các công ty này tìm được các nguồn nguyên liệu và nhân công có chỉ phí thấp hơn tại quốc gia mà công ty đang hoạt động.
Vì vậy mà công ty sẽ tiến hành xây dựng các chỉ nhánh hay các công ty con tại các quốc gia mà có những lợi thể sơ sánh về chỉ phí nguyên vặt liệu, nhân công đầu vào nhằm tìm kiếm mức lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy do nhu cầu phát triển và mở. rộng thị trường của mình mà các công ty này đã thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn rộng lớn và vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia nên được gọi là công ty đa quốc gia. Công ty đa quốc gia bao gồm công ty mẹ ở một nước, và thực hiện các đầu tư FDI ra nước ngoài để hình thành các công ty con.
Các công ty mẹ con. này ảnh hưởng lẫn nhau và cùng chia sẻ kiến thức, nguồn lực và trách nhiệm. Mục tiêu của các MNC này còn bao hàm cả việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu, nhân công với giá cả so sánh, tìm kiếm những ưu đãi về thuế, ưu đãi về kinh tế nhằm phục vụ cho mục tiêu to lớn nhất của các công ty là tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa giá trị tài sản công ty. " 1⁄2 HOẠT ĐỘNG CHUYÊN GIÁ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP EDI 1.1 Khái niệm chuyển giá Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dich vy va tai sin duge chuyển dịch giữa các bên (các doanh nghiệp) có quan hệ liên kết không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công.
ty đa quốc gia trên toàn cầu. 22-23] Nhu vay, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện. nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả.
Sở dĩ giá cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thể xuất phát từ ba lý do sau: Thứ nhất, xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ. thể hoàn toàn có quyển quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muối Thứ hai, xuất phát từ mỗi quan hệ gắn bó chung vẻ lợi ích giữa nhóm. liên kết nên sự khác biệt về giá giao dich được thực hiện giữa các chủ thể kinh cdoanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
Thứ ba, việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay ai tổng vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển. từ nơi bị cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại. Tén tai su khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ không thể đồng nhí ‘ing như sự hiện hữu.
của các quy định ưu đãi thuế là điều tắt yêu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế. vì thể hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, chuyển giá chỉ có ý nghĩa đối với các giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể có mỗi quan hệ liên kết.
Để làm điều này họ phải thiết lập sách về giá mà ở đó giá chuyển giao có thể được định ở mức cao 12 hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ những giao dịch như thế. ®Cơ sở để xác định mối quan hệ liên kết: quản lý, điều hành, góp vốn. Cuụthề: ~ Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào điều hành, kiểm soát, góp. vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia.
~ Các bên trực tiếp hoặc gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp.