CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.Lý do hình thành đề tài Dịch vụ khám, chữa bệnh là dịch vụ đặc thù liên quan đến sinh mệnh của con người, quá trình cung cấp dịch vụ phải tác động trực tiếp đến cơ thể người bệnh nên người bệnh có khả năng bị tổn thương ở bất kỳ thời điểm nào do xảy ra sự cố trong quá trình cung cấp dịch vụ gây ra (Runcimani, 2009). Số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cập nhật tháng 6 năm 2014, cho thấy, ở các nước phát triển, cứ mười người bệnh thì có một người bị tổn thương sức khỏe do sự cố trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh (sự cố y khoa). Tại Mỹ, chỉ trong năm 2008, có khoảng 6,3 triệu trường hợp người bệnh bị tổn thương sức khỏe do sự cố y khoa, làm phát sinh 17 tỉ USD để khắc phục hậu quả, chưa kể đến các tổn thất khác cho xã hội (Andel, Davidow, Hollander, và Moreno, 2012). Còn ở các nước đang phát triển, như Việt Nam, mặc dù không có số liệu thống kê chính thức nhưng dựa vào điều kiện cơ sở vật chất hạn chế, hệ thống máy móc, trang thiết bị y tế tương đối lạc hậu và công tác quản lý còn nhiều thiếu sót thì có thể dự đoán tình hình bị tổn thương của người bệnh còn nghiêm trọng hơn.
Nhiều vụ việc người bệnh bị tổn thương do phẫu thuật nhầm, tiêm nhầm thuốc… được phản ánh trên các phương tiện truyền thông đã cho thấy bề nổi của vấn đề. Hơn nữa, việc các bệnh viện không quản lý tốt an toàn trong khám, chữa bệnh không chỉ gây ra tổn thất cho sức khỏe người bệnh mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và sự an toàn của các cơ sở y tế, của các bác sĩ, điều dưỡng, khiến dư luận bất bình. Ngoài tổn thất về kinh tế do phải bồi thường thì nhân viên y tế và bệnh viên còn phải đối mặt với các chế tài của luật pháp. Do đó, đảm báo an toàn cho người bệnh, với ý nghĩa là giảm thiểu đến mức có thể chấp nhận được các sự cố gây tổn thương sức khỏe đối với người bệnh trong quá trình thực hiện các hoạt động khám, chữa bệnh được xem như là một nguyên tắc của ngành y tế, như là một thành phần quan trọng của chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (Kohn, Corrigan, và Donaldson, 2000; Runcimani, 2009).
2 Để đảm bảo an toàn người bệnh, các bệnh viện cần phải kiểm soát các hành vi không an toàn (unsafe behavior) là các hành vi sai lệch (deviation) so với các quy trình, thủ tục an toàn đã được ban hành, vì chính các hành vi sai lệch này làm phát sinh sự cố (Vincent, 2001). Để kiểm soát các hành vi sai lệch gây ra sự cố, các bệnh viện đã tập trung đào tạo, huấn luyện các nhân viên “tiền tuyến” (front line) là các bác sĩ, điều dưỡng trực tiếp làm công tác khám bệnh, chữa bệnh vì chính hành vi sai lệch của các nhân viên này là nguyên nhân gây ra sự cố cho người bệnh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các hành vi sai lệch vẫn xảy ra, sự cố y khoa vẫn phát sinh. Theo Brown, Willis, và Prussia (2000), việc chỉ xem xét hành vi sai lệch từ góc độ cá nhân đã dẫn đến việc xác định sai nguyên nhân, vì hành vi con người chỉ là khâu cuối cùng trong chuổi các tương tác giữa các thành phần xã hội và kỹ thuật trong bối cảnh tổ chức với các quá trình nhận thức của cá nhân.
Với hướng tiếp cận này, Fogarty và Shaw (2010); Hofmann và Stetzer (1996), qua các công trình nghiên cứu, đã chứng minh sự tác động của không khí an toàn (safety climate), một bộ phận của bối cảnh tổ chức, là các nhận thức được chia sẻ giữa các thành viên của một tổ chức về sự ưu tiên của các chính sách, thủ tục, thực tiễn an toàn và mức độ mà các hành vi tuân thủ quy định an toàn hoặc nâng cao mức độ an toàn được khen thưởng hoặc hỗ trợ tại nơi làm việc (Zohar, 2000) đến hành vi không an toàn của các cá nhân thành viên. Việc xác định quan hệ giữa không khí an toàn và hành vi không an toàn, theo Hall, Blair, Smith, và Gorski (2013); Seo, Torabi, Blair, và Ellis (2004) đã tạo ra một bước tiến mới trong lĩnh vực an toàn vì sẽ giúp dự báo sự cố và tìm ra các biện pháp can thiệp có hiệu quả để ngăn ngừa việc thực hiện hành vi không an toàn mà không phải chờ sự cố xảy ra mới tiến hành phân tích để cải tiến hệ thống như các phương pháp truyền thống đang thực hiện. Kết quả các nghiên cứu nói trên đã khẳng định được vai trò quan trọng của không khí an toàn trong công tác quản lý an toàn. Tuy nhiên, điểm hạn chế của các nghiên cứu về không khí an toàn, theo Hall và ctg.
(2013), là thiếu một khuôn khổ lý thuyết để có thể làm rõ được cơ chế tác động của không khí an toàn đến hành vi của cá nhân và đề nghị áp dụng lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) để giải quyết điểm hạn chế này. 3 Theo định hướng này, Fogarty và Shaw (2010), trên cơ sở vận dụng lý thuyết TPB đã xây dựng mô hình quan hệ giữa không khí an toàn và hành vi không an toàn, bao gồm các nhân tố thái độ lãnh đạo đối với an toàn, thái độ cá nhân đối với vi phạm, chuẩn mực nhóm, áp lực làm việc, ý định vi phạm và vi phạm và quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình. Mô hình của Fogarty và Shaw (2010) đã được kiểm định với số liệu thu thập được từ nhân viên bảo trì máy báy trong ngành hàng không của Úc. Sự cố y khoa gây ra tổn thất về sức khỏe cho người bệnh là những tổn thất không thể khắc phục được, dẫn đến các hậu quả nặng nề cho cả người bệnh lẫn nhân viên y tế.
Để đảm an toàn người bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, các bệnh viện cần phải tiếp thu các thành tựu của các ngành khác vào lĩnh vực an toàn người bệnh (Vincent, 2001), trong trường hợp này, là mô hình quan hệ giữa không khí an toàn và hành vi không an toàn đã được kiểm chứng trong ngành hàng không. Vì vậy, việc nghiên cứu “Quan hệ của giữa các nhân tố không khí an toàn người bệnh với việc thực hiện hành vi không an toàn của nhân viên y tế” nhằm dự báo sự cố và tìm ra các biện pháp can thiệp có hiệu quả trước khi xảy ra sự cố là thực sự cần thiết và có ý nghĩa trong công tác đảm bảo an toàn người bệnh của các cơ sở y tế nói chung và bệnh viện nói riêng.Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nhằm thực hiện hai mục tiêu sau: (i) Kiểm định mô hình quan hệ giữa không khí an toàn với hành vi không an toàn đối với các bác sĩ, điều dưỡng trực tiếp khám chữa bệnh. (ii) Đưa ra các hàm ý quản lý để hạn chế một cách có hiệu quả việc xuất hiện các hành vi không an toàn của đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng trực tiếp khám chữa bệnh. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi sau: - Không khí an toàn người bệnh tác động như thế nào đối với hành vi không an toàn của bác sĩ, điều dưỡng trực tiếp khám chữa bệnh cho người bệnh? - Các nhân tố chính ảnh hưởng đến hành vi không an toàn của bác sĩ, điều dưỡng trực tiếp khám chữa bệnh cho người bệnh? 4 1.Phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về hành vi không an toàn của nhóm bác sĩ và điều dưỡng trực tiếp làm công tác khám chữa bệnh.
Đối tượng cung cấp thông tin: các bác sĩ và điều dưỡng đang trực tiếp làm công tác khám chữa bệnh tại 2 bệnh viện (một bệnh viện công và một bệnh viện tư) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Địa điểm nghiên cứu: Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 10 năm 2017. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu Ý nghĩa khoa học: Mở rộng khả năng giải thích và tính khái quát của mô hình quan hệ giữa nhân tố không khí an toàn với hành vi không an toàn.
Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở quan hệ giữa nhân tố không khí an toàn với hành vi không an toàn của cá nhân, đưa ra giải pháp có hiệu quả để đảm bảo an toàn người bệnh trong các bệnh viện. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này nhằm trình bày các khái niệm có liên quan, thang đo khái niệm, đơn vị nghiên cứu, cũng như xem xét sự tương quan giữa an toàn nghề nghiệp và an toàn người bệnh. Không khí tổ chức Không khí an toàn là một tập con của không khí tổ chức (Coyle, Sleeman, và Adams, 1995) nên cần phải tìm hiểu về khái niệm không khí tổ chức trước khi tìm hiểu sâu hơn về khái niệm không khí an toàn. Khái niệm không khí tổ chức có nguồn gốc từ tâm lý học nhằm giải thích tác động của tình huống đến hành vi của con người.
Không khí tổ chức được đánh giá là khó nắm bắt và mỗi tác giả đều có một ý kiến riêng về không khí tổ chức (Ehrhart, Schneider, và Macey, 2014), là một trong những khái niệm không rõ ràng nhất nhưng cũng là một trong những khái niệm quan trọng nhất cần phải hiểu để suy nghĩ như là một nhà tâm lý học tổ chức (Guion, 1973). Không khí tổ chức là một khái niệm không rõ ràng vì các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về không khí tổ chức, Verbeke, Volgering, và Hessels (1998) đã chỉ ra có đến 32 định nghĩa khác nhau về không khí tổ chức. Trong một nghiên cứu tổng quan về không khí tổ chức, Kuenzi và Schminke (2009) đã đề nghị lựa chọn định nghĩa của Schneider và Reichers (1983) để sử dụng trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến không khí tổ chức vì nó được nhiều tác giả sử dụng và phân biệt được không khí tổ chức với các hiện tượng khác của tổ chức: “Không khí tổ chức là các ý nghĩa được chia sẻ về các sự kiện, chính sách, thực tiễn và thủ tục trong tổ chức được các thành viên tổ chức tham gia thực hiện, các hành vi được ban thưởng, hỗ trợ và kỳ vọng trong tổ chức mà họ nhận biết được”.