Tổng quan nghiên cứu

Năm 2016, Việt Nam ghi nhận gần 2.000.000 hộ nghèo trên cả nước theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. Trong đó, khoảng 80% (tương đương 1,58 triệu hộ) thuộc diện nghèo về thu nhập và xấp xỉ 20% (khoảng 350.000 hộ) có thu nhập vượt chuẩn nghèo chính sách nhưng lại thiếu hụt nghiêm trọng từ 3 chỉ báo dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Phương pháp đo lường đơn chiều truyền thống trước đây chủ yếu dựa vào mức thu nhập từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng/người/tháng đã bộc lộ hạn chế lớn khi bỏ sót nhiều nhu cầu thiết yếu không thể lượng hóa bằng tiền mặt.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự bất cập của hệ thống 5 chiều và 10 chỉ báo áp dụng trong giai đoạn 2016-2020 trước tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và sự gia tăng của lực lượng lao động di cư. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là hoàn thiện phương pháp tính và cấu trúc chỉ báo Chỉ số nghèo đa chiều (MPI), đề xuất hệ thống chỉ số mới có tính khả thi cao nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội cho giai đoạn 2021-2025.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc 6 vùng kinh tế trên cả nước, đồng thời phân tích chi tiết giữa hai khu vực thành thị và nông thôn dựa trên dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2016. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn khi giúp giảm thiểu tỷ lệ bỏ sót 20% đối tượng khó khăn, tối ưu hóa nguồn lực ngân sách quốc gia và nâng cao độ bao phủ chính sách an sinh xã hội cho hơn 1,3 triệu hộ cận nghèo trên toàn lãnh thổ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết năng lực của Amartya Sen (1997), khẳng định nghèo đói là sự tước đoạt các quyền năng và cơ hội tối thiểu để con người phát triển toàn diện. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa quan điểm của Ngân hàng Thế giới và Liên Hợp Quốc khi xác định: nghèo là tình trạng thiếu khả năng tham gia vào đời sống quốc gia.

Khung phương pháp luận cốt lõi được áp dụng là mô hình đo lường nghèo đa chiều của Sabina Alkire và James Foster (2007, 2011), do Tổ chức Sáng kiến Phát triển Con người và Nghèo đói (OPHI) cùng Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) khởi xướng. Mô hình này vận hành dựa trên các khái niệm nền tảng:

  • Chuẩn nghèo đơn chiều: Dựa trên mức năng lượng 2.100 kcal/người/ngày kết hợp chi phí nhu cầu cơ bản phi lương thực.
  • Nghèo đa chiều: Tình trạng hộ gia đình bị thiếu hụt đồng thời nhiều dịch vụ xã hội thiết yếu như y tế, giáo dục, điều kiện sống và an sinh xã hội.
  • Chỉ số nghèo đa chiều (MPI): Tích số giữa tỷ lệ nghèo đếm đầu (H) và độ sâu thiếu hụt bình quân (A) theo công thức toán học MPI = H x A.
  • Ngưỡng cắt kép: Gồm điểm cắt thứ nhất xác định tình trạng thiếu hụt của từng chỉ báo và điểm cắt thứ hai (k = 1/3) xác định hộ nghèo đa chiều.

Nghiên cứu bám sát các văn bản pháp lý then chốt gồm Quyết định số 1614/QĐ-TTg, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2016 do Tổng cục Thống kê triển khai. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 46.995 hộ gia đình đại diện cho toàn bộ 63 tỉnh, thành phố. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên nhiều giai đoạn (stratified multi-stage sampling), đảm bảo tính đại diện thống kê cao cho cả cấp quốc gia, 6 vùng kinh tế và 2 khu vực thành thị - nông thôn.

Phương pháp phân tích định lượng vi mô được thực hiện thông qua việc lập trình các thuật toán xử lý dữ liệu phức hợp trên phần mềm chuyên dụng Stata. Lý do lựa chọn phương pháp Alkire - Foster và công cụ Stata là khả năng phân rã chỉ số MPI theo từng chiều, từng chỉ báo và từng vùng địa lý một cách nhất quán mà không làm mất đi thông tin phân phối điều kiện. Timeline nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng giai đoạn 2016-2020 và mô phỏng thực nghiệm bộ chỉ tiêu mới nhằm chuẩn bị cho khung chính sách giai đoạn 2021-2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả thực nghiệm từ dữ liệu VHLSS 2016 mang lại những phát hiện có ý nghĩa thống kê sâu sắc:

Thứ nhất, xét theo các chiều nghèo, chiều Giáo dục ghi nhận mức độ thiếu hụt nghiêm trọng nhất với tỷ lệ 76,6% hộ gia đình thiếu hụt ít nhất một chỉ báo thành phần. Tiếp theo là chiều Y tế với tỷ lệ thiếu hụt 40,6% và chiều An sinh xã hội với 38,0%.

Thứ hai, khi phân tích chi tiết từng chỉ báo, chỉ báo Trình độ giáo dục nghề nghiệp có tỷ lệ thiếu hụt cao nhất toàn quốc lên tới 75,5%. Chỉ báo Bảo hiểm y tế thiếu hụt 40,6% và chỉ báo Bảo hiểm xã hội thiếu hụt 35,8% dân số trong độ tuổi quy định.

Thứ ba, sự phân hóa vùng miền thể hiện rõ rệt khi mức độ thiếu hụt tập trung cao nhất tại 3 vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long và Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung. Ngược lại, vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng có mức độ thiếu hụt thấp nhất cả nước.

Thứ tư, bất bình đẳng sâu sắc giữa hai khu vực cư trú: Tỷ lệ thiếu hụt hố xí hợp vệ sinh trên cả nước là 56,8% và chất lượng nhà ở thiếu kiên cố là 37,29%. Trong đó, khu vực nông thôn có tỷ lệ thiếu hụt nhà tiêu hợp vệ sinh cao gấp 3,2 lần so với khu vực thành thị.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến chiều Giáo dục thiếu hụt tới 76,6% bắt nguồn từ việc lao động nông thôn chưa được đào tạo nghề bài bản, cùng với tình trạng thiếu trường mầm non công lập tại các khu công nghiệp khiến con em lao động di cư bị đứt gãy học tập từ sớm.

So sánh với mô hình của Colombia (15 chỉ báo) và Trung Quốc (9 chỉ báo), việc Việt Nam chỉ đo lường 10 chỉ báo trong giai đoạn 2016-2020 đã bỏ qua các khía cạnh an sinh thiết yếu như bảo hiểm xã hội và quyền cư trú hợp pháp của người di cư.

Trong phần trình bày kết quả, các dữ liệu vi mô được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện tỷ trọng đóng góp của từng chỉ báo vào chỉ số MPI tổng thể. Bên cạnh đó, bảng phân tổ chéo giữa 5 nhóm thu nhập và 6 vùng sinh thái đã minh chứng rõ nét rằng: thiếu hụt đa chiều không chỉ xuất hiện ở nhóm nghèo nhất mà còn hiện diện ở 5,41% nhóm cận nghèo và cận trung lưu tại các đô thị lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Điều chỉnh và chuẩn hóa các chỉ báo giáo dục: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hạ độ tuổi đánh giá chỉ báo tình trạng đi học của trẻ em từ 5 tuổi xuống 3 tuổi nhằm đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục mầm non. Đồng thời, bổ sung chỉ báo Trình độ giáo dục nghề nghiệp vào chiều Giáo dục, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ lên trên 70% vào năm 2025.
  • Bổ sung chiều An sinh xã hội vào khung đo lường quốc gia: Quốc hội và Chính phủ xem xét thành lập chiều An sinh xã hội độc lập gồm 2 chỉ báo là Tham gia bảo hiểm xã hội và Đăng ký hộ khẩu thường trú/tạm trú, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ thiếu hụt bảo hiểm xã hội từ 35,8% xuống dưới 20% trong giai đoạn 2021-2025.
  • Đầu tư hạ tầng thiết yếu cho các vùng trũng an sinh: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng chính quyền các địa phương đẩy mạnh chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ thiếu hụt nhà tiêu hợp vệ sinh từ 56,8% xuống dưới 25% trước năm 2024 tại vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
  • Thiết lập lộ trình cập nhật dữ liệu định kỳ: Tổng cục Thống kê chuẩn hóa quy trình phân tích tự động trên Stata theo chu kỳ 2 năm một lần thông qua các cuộc điều tra VHLSS, hoàn thiện báo cáo phân tích nghèo đa chiều làm cơ sở khoa học để ban hành chuẩn nghèo mới áp dụng cho cả nước giai đoạn 2021-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội: Tiếp cận cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm vững chắc để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, nghị định về chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025.
  • Chuyên viên thống kê và nghiên cứu định lượng tại Tổng cục Thống kê: Ứng dụng quy trình xử lý dữ liệu vi mô VHLSS và cú pháp tính toán chỉ số MPI bằng mô hình Alkire - Foster trên phần mềm Stata với cỡ mẫu hơn 40.000 hộ gia đình.
  • Cán bộ quản lý chương trình tại các tổ chức quốc tế (UNDP, UNICEF, Ngân hàng Thế giới, ILO): Sử dụng ma trận thiếu hụt 6 vùng kinh tế để thiết kế các dự án viện trợ không hoàn lại và chương trình tài trợ sinh kế trị giá hàng triệu USD có mục tiêu rõ ràng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Thống kê kinh tế, Kinh tế phát triển, Chính sách công: Sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp đo lường phúc lợi hiện đại và kỹ năng phân tích chính sách kinh tế - xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số nghèo đa chiều MPI khác biệt như thế nào so với chuẩn nghèo thu nhập truyền thống? Chuẩn nghèo thu nhập chỉ đo lường số tiền chi tiêu tối thiểu (khoảng 400.000 đến 500.000 đồng/tháng), dễ bỏ sót những người có thu nhập nhưng thiếu điện, nước sạch và giáo dục. Chỉ số MPI phản ánh cả tỷ lệ nghèo và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản theo công thức MPI = H x A.

Tại sao luận văn đề xuất hạ độ tuổi chỉ báo giáo dục trẻ em từ 5 tuổi xuống 3 tuổi? Đô thị hóa nhanh khiến hàng vạn lao động di cư tại các khu công nghiệp gặp khó khăn khi tìm trường mầm non cho con. Hạ độ tuổi xuống 3 tuổi giúp chính sách nhận diện đúng nguy cơ thất học sớm, bảo đảm trẻ em được bảo vệ quyền tiếp cận giáo dục mầm non từ 3 đến 5 tuổi theo chuẩn quốc tế.

Ngưỡng cắt k = 1/3 trong phương pháp Alkire - Foster có ý nghĩa như thế nào? Ngưỡng k = 1/3 quy định hộ gia đình thiếu hụt từ 33,3% tổng điểm các chỉ báo trở lên sẽ được phân loại là nghèo đa chiều. Kết quả năm 2016 cho thấy có 350.000 hộ dù thu nhập vượt chuẩn nhưng thiếu từ 3 chỉ báo trở lên, nhờ ngưỡng cắt này mà được đưa vào diện thụ hưởng chính sách an sinh.

Chỉ báo nào có mức độ thiếu hụt nghiêm trọng nhất trong kết quả nghiên cứu thực nghiệm? Chỉ báo Trình độ giáo dục nghề nghiệp ghi nhận mức thiếu hụt cao nhất cả nước lên tới 75,5%, khiến chiều Giáo dục có mức thiếu hụt chung 76,6%. Điều này phản ánh thực trạng đa số người lao động ở nông thôn và miền núi chưa qua đào tạo nghề, tạo thành rào cản lớn nhất cho mục tiêu thoát nghèo.

Chính quyền cấp tỉnh có thể ứng dụng kết quả của luận văn vào thực tế như thế nào? Các địa phương có thể dựa vào biểu đồ phân rã thiếu hụt từng chiều để ưu tiên nguồn vốn ngân sách. Ví dụ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần ưu tiên vốn xóa thiếu hụt nhà tiêu hợp vệ sinh (nơi tỷ lệ thiếu hụt vượt 56%), thay vì chỉ tập trung vào chính sách trợ cấp tiền mặt cào bằng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều theo chuẩn mực quốc tế Alkire - Foster.
  • Nghiên cứu xử lý thành công dữ liệu VHLSS 2016 trên phần mềm Stata, cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội tại 6 vùng kinh tế.
  • Bằng chứng thực nghiệm đã xác định chiều Giáo dục (76,6%) và chỉ báo Giáo dục nghề nghiệp (75,5%) là hai mắt xích yếu nhất trong hệ thống phúc lợi xã hội.
  • Đề xuất đột phá việc bổ sung chiều An sinh xã hội và điều chỉnh độ tuổi trẻ em mầm non từ 3 tuổi cho khung chính sách giai đoạn 2021-2025.
  • Cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác giúp các cơ quan quản lý nhà nước ban hành tiêu chí giảm nghèo bền vững, công bằng và bao trùm.

Đóng góp lớn nhất của công trình là việc hoàn thiện bộ công cụ đo lường MPI phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam. Lộ trình triển khai tiếp theo gồm việc cập nhật dữ liệu VHLSS 2018 trong năm 2019, thử nghiệm bộ công cụ chuẩn trong năm 2020 và chính thức áp dụng toàn quốc giai đoạn 2021-2025. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy chủ động khai thác khung phương pháp này để thúc đẩy các chính sách phát triển vì con người.