CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Bản chất của tạo động lực cho người lao động 1. Động lực Theo các tác giả Maier và Lawler (1973): Động lực là sự khao khát tự nguyện của mỗi cá nhân thông qua mô hình về kết quả thực hiện công việc là một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Trong đó, năng lực làm việc phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm có được của người lao động thông qua đào tạo và quá trình thực hiện công việc.
Ngoài ra theo những nghiên cứu của các nhà kinh tế học lao động, hiện nay có nhiều khái niệm về động lực lao động: “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. [3, tr 128] “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. [7, tr 151] Thông qua những định nghĩa trên có thể hiểu một cách khái quát nhất về động lực đối với người lao động đó là: "Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích người lao động nỗ lực thực hiện những hành vi theo mục tiêu".
Nhu cầu "Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó" [3, tr 129]. Như vậy nhu cầu chính là cảm giác thiếu hụt một thứ gì đó mà con người có thể cảm thấy được, nó là sự mong muốn, đòi hỏi, khao khát của con người về một vấn đề gì đó. 7 Có nhiều loại nhu cầu khác nhau, tuỳ vào từng cách phân chia mà ta có: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu trước mắt, nhu cầu lâu dài… Nhu cầu của mỗi cá nhân, mỗi người lao động là đa dạng và vô tận, khi nhu cầu này được thoả mãn, đồng thời sẽ nảy sinh một nhu cầu khác. Tuy nhu cầu luôn tồn tại vĩnh viễn với mỗi cá nhân, nhưng nhu cầu không phải là yếu tố quyết định đến động lực mà lợi ích mới thực sự là yếu tố quyết định đến động lực đối với người lao động.
Do vậy, để tiếp tục làm rõ bản chất của tạo động lực đối với người lao động, ta cần phải làm rõ khái niệm lợi ích. Lợi ích “Lợi ích là kết quả mà con người nhận được qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân” [3, tr 129]. Lợi ích chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận được từ tổ chức. Cũng giống nhu cầu, có nhiều loại lợi ích khác nhau: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể….
Có thể nói: “Lợi ích là mức độ thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định”. Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Lợi ích sẽ không xuất hiện nếu không có nhu cầu. Bởi khi không có nhu cầu thì không cần phải thỏa mãn và do vậy lợi ích cũng không xuất hiện.
Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là chính là lợi ích đạt được. Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng lớn. Lợi ích đạt được càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con người hành động để rút ngắn khoảng cách đó.
Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Tạo động lực lao động Tạo động lực là chuỗi quá trình làm nảy sinh động lực trong mỗi cá nhân người lao động. Do vậy tạo động lực được hiểu là sự vận dụng, áp dụng những chính sách, cơ chế, các công cụ, giải pháp phù hợp nhằm tác động đến hành vi và ý thức của người lao động, từ đó làm cho người lao động xuất hiện động lực trong quá trình làm việc, thúc đẩy sự hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức của người lao động. Theo trên, có thể nói rằng tạo động lực cho người lao động chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động cho mỗi cá nhân người lao động.
“Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và doanh nghiệp”. Tóm lại, thực chất của tạo động lực cho người lao động chính là việc xác định các nhu cầu của họ, thông qua các công cụ, chính sách quản lý để thỏa mãn các nhu cầu hợp lý để làm gia tăng lợi ích cho người lao động để họ làm việc với tinh thần tích cực, tự giác, phát huy nhiều sáng tạo và không ngừng nâng cao hiệu quả công việc. Một số học thuyết về tạo động lực cho người lao động 1. Học thuyết về nhu cầu của Maslow Năm 1943, Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đó là Lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao: - Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản nhất của con người để tồn tại như không khí, nước, lương thực….Như vậy, có thể thấy việc trả công lao 9 động tối thiểu cần đủ để đáp ứng những nhu cầu này giúp đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình. - Nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định, chắc chắn, muốn được bảo vệ an toàn thân thể. Trong lao động, người lao động muốn có công việc ổn định, môi trường an toàn, đảm bảo về y tế sức khỏe,… - Nhu cầu xã hội là một trong những nhu cầu bậc cao của con người.
Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu giao, được thể hiện và chấp nhận tình cảm, nhu cầu được chia sẻ sự yêu thương… Để đáp ứng nhu cầu này, tổ chức cần tạo điều kiện cho người lao động làm việc theo nhóm, tổ chức giao lưu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ làm việc… - Nhu cầu được tôn trọng con người muốn mọi người kính trọng, vị nể mình, thừa nhận vị trí của mình trong xã hội. Tổ chức có thể đáp ứng nhu cầu này bằng sự khen ngợi, ghi nhận thành tích, vinh danh người lao động… - Nhu cầu tự hoàn thiện là cấp độ cao nhất: là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình. Họ mong muốn được biến năng lực của mình thành hiện thực, mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu, được tự chủ trong công việc. Tổ chức cần tạo cơ hội cho người lao động phát triển, thăng tiến, giao cho họ các nhiệm vụ mang tính thách thức… Như vậy, để tạo động lực cho người lao động nhà quản lý cần xác định nhu cầu của nhân viên và đưa ra các biện pháp nhằm thoả mãn nhu cầu đó của họ để chính sách tạo động lực đạt được kết quả cao nhất.
Học thuyết công bằng của J. Stasy Adam Theo J.Stacy Adams, trong một công ty, người lao động luôn muốn được đối xử công bằng, bao gồm cả công bằng bên trong và công bằng bên ngoài. Công bằng bên trong, đó là việc đánh giá chính xác những thành tích, kết quả công việc đối với người lao động, từ đó chi trả hay thanh toán mức thù lao, đãi ngộ tương xứng, hay khen thưởng xứng đáng với kết quả đóng góp, thành tích công việc hay công sức người lao động đã bỏ ra. Công bằng 10 bên ngoài, chính là là việc công ty phải đảm bảo được sự công bằng trong quan hệ lao động giữa tất cả những người lao động khác.
Đây chính là việc người lao động thường xuyên có tâm lý so sánh tỷ lệ quyền lợi/đóng góp của mình với tỷ lệ quyền lợi/đóng góp của những người lao động khác, thông qua biểu thức như sau: Các quyền lợi cá nhân Các quyền lợi của những người khác >=< Đóng góp của cá nhân Đóng góp của những người khác Tác giả J. Stacy Adams cho thấy để tạo động lực cho người lao động phải đưa ra những biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động trên cơ sở đảm bảo sự công bằng. Để thiết lập và duy trì sự công bằng trong công ty nhằm tạo động lực cho người lao động. Công ty cần phải xây dựng hệ thống đánh giá thành tích công việc, mức độ đóng góp với công ty thông qua hệ thống các tiêu chí đánh giá hợp lý phù hợp; áp dụng phương pháp đánh giá chính xác, nhanh chóng, công khai.
Đồng thời sử dụng kết quả đánh giá đó làm căn cứ quan trọng nhất trong quá trình thực thi các chính sách trả lương, khen thưởng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm… cho người lao động. Ngoài ra, một trong các kỹ thuật khi thực hiện đánh giá đó là phải không có bất kỳ ý kiến chủ quan, định kiến nào của người đánh giá, triệt tiêu tối đa các yếu tố làm cho người lao động cảm thấy bị phân biệt đối xử về giới tính, vùng miền, văn hóa, độ tuổi, dân tộc hay tôn giáo. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo động lực lao động 1. Các yếu tố thuộc bản thân người lao động Mục tiêu của mỗi người lao động: Mỗi người lao động đều có những mục tiêu khác nhau trong công việc, có những mục đích khác nhau trong quá trình thực hiện công việc hay gắn bó lâu dài với công ty.