Chương 1: Cơ sởlý luận về kênh phân phối và quản trị kênh phân phối ~ Chương 2: Thực trạng tỗ chức và quản trị kênh phân phối tại Trung tâm Kinh doanh VNPT - Gia Lai - Chương 3: Hoàn thiện công tác quản trị kênh phân phối dịch vụ Vinaphone tại Trung tâm Kinh doanh VNPT - Gia Lai. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản trị kênh phân phối là vấn đề được rất nhiều các nhà kinh tế học, các nhà nghiên cứu quan tâm. Việc tập trung nghiên cứu và phát triển mạng lưới kênh tiêu thụ sản phẩm giúp doanh nghiệp tạo dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh trên thị trường vì tầm quan tngj của kênh phân phối — là một tập hợp các quan hệ bên ngoài giữa các chủ thể độc lập trong kinh doanh. Việc tạo lập và phát triển hệ thống kênh phân phối đòi hỏi phải có thời gian, trí tuệ, vật chất, sức lực.
nên các doanh nghiệp cũng gặp nhiều kho khan tng van dé triển khai và thực hiện. Các doanh nghiệp cần phải biết sử dụng các kênh phân phối như là công cụ quan trọng giúp họ thành công trên thị trường dài hạn. Liên quan đến vấn để này, tác giả đã nghiên cứu nhiều tài liệu, công trình, kết quả nghiên cứu tiêu biểu như: ~ Trương Đình Chiến (2012) “Quản trị kênh phân phối ”, NXB Đại học 'Kinh tế quốc dân; ~ Trần Thị Thập (2012), “Quản sri bin hang”, NXB Thông tin truyền thông; ~ Philip Kotler (2013) “Quản tri marketing”, NXB Lao động - Xã hội. Các tác giả đã đề cập đến những khái niệm, xu hướng, chiến lược marketing mới cũng như việc ứng dụng các kiến thức đó vào thực tế kinh doanh ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Việc quản tị kênh phân phối ở mỗi doanh nghiệp khác nhau tùy vào đặc điểm, loại hình cũng như quy mô doanh nghiệp. Một số tác giả cũng đã nghiên cứu vấn đề về quản trị kênh phân phối trong các luận văn nghiên cứu của mình như: Luận văn “Hoàn thiện quản trị kênh phân phối dịch vụ điện thoại di động của Vinaphone” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Lụa, Học viện Bưu chính viễn thông, năm 2011; Luận văn “Hoàn thiện quản trị kênh phân phối các thiết bị viễn thông của công ty TNHH VKX" của Thạc sĩ Đồng Thị Hậu, Học viện Bưu chính viễn thông, năm 2012; Luận văn “Quản trị kênh phân phối tại công ty cổ phần dược vật tr y tế Quảng Nam” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thùy Dương, Đại học Đà Nẵng, năm 2014;. Các tác giả đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị kênh phân phối the từng sản phẩm, dịch vụ cụ thể mà chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về lĩnh vực quản trị kênh phân phối toàn bộ sản phẩm, dịch vụ viễn thông tại Trung tâm Kinh doanh - VNPT Gia Lai CHUONG 1 VE KENH PHAN PHOI VA QUAN TRI KENH PHAN PHOL 1. Kênh phân phối 1.
Khái niệm kênh phân phối 'Có nhiều quan điểm khác nhau về kênh phân phối. Kênh phân phối là một tập hợp các công ty hay cá nhân tự gánh vác hay giúp đỡ chuyên giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hóa cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu ding (Philip Kotler, 2013) “Theo quan điểm marketing, kênh phân phối là tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá tình làm cho hàng hóa sẵn sàng trên thị trường để sử dụng, tiêu dùng. Kênh phân phối hình thành nên dòng chảy sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Nói cách khác, kênh phân phói là một nhóm tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình đưa sản phâm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy sản phẩm từ người sản xuất đến ngừi mua cuối cùng. Tất cả những tổ chức, cá nhân tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh. Những thành viên nằm giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng được gọi là các trung gian phân phối. Theo quan điểm nhà quản trị ở các doanh nghiệp, kênh phân phối là một tổ chức hệ thống các quan hệ với các tổ chức và cá nhân bên ngoài quản lý, hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện các mục tiêu trên thị trường của doanh nghiệp.
Như vậy, họ quan niệm kênh phân phối tồn tại bên ngoài doanh nghiệp không phải là một cấu trúc tổ chức nội bộ cảu doanh nghiệp. Đối với họ, quản trị kênh phân phối liên quan tới khả năng và phương pháp quản lý giữa tổ chức hơn là quản lý nội bộ một tổ chức doanh nghiệp. Tuy nhiên, mọi quyết định liên quan đến phân phối không chỉ liên quan tới doanh nghiệp, nhà quản trị kênh mà chủ yếu liên quan tới các thành viên trong kênh bởi nó sẽ chỉ phối mọi hoạt động của thành viên kênh. “Tham gia kênh phân phối có nhiều tô chức và cá nhân.
Trong đó người bán buôn và người bán lẻ là những người mua, sở hữu và bán lại hàng hoá. Những trung gian khác bao gồm nhà môi giới, đại diện của nhà sản xuất, đại lý bán hàng là những người tìm kiếm khách hàng, thực hiện việc thương lượng trên danh nghĩa của nhà sản xuất và không sở hữu hàng hoá. Trong quản lý trung gian phân phối, doanh nghiệp cần tính toán nên đầu tư vào trung gian như thế nào tương ứng với chiến lược đẩy hoặc chiến lược kéo. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp thành công thường sử dụng hai hoặc nhiều kênh phân phối để tiếp cận với khách hàng ở những phân khúc thị trường khác nhau.
Khi đó, với mỗi kênh khác nhau sẽ nhắm vào một một đoạn thị trường, một nhóm người mua, hoặc một nhu cầu khác nhau, từ đó chuyển giao đúng sản phẩm, đúng chỗ và đúng cách với chỉ phí tối thiểu. Nếu doanh nghiệp không thực hiện được điều này, việc sử dụng nhiều kênh có thể tao ra mâu thuẫn trong kênh phân phối, chi phí bị đội lên hoặc tạo ra áp lực không cần t Có rất nhiều cách định nghĩa về kênh phân phối, nhưng có thể khái quát lại kênh phân phối là một hệ thống các mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan trong quá trình lưu thông hàng hoá hay mua và bán hàng hoá. Kênh phân phối là đối tượng để tổ chức quản lý như một công cụ marketing trọng. yếu của các Doanh nghiệp trên thị trường.
Vai trò và chức năng của kênh phân phối 1.1 Vai trò của kênh phân phối 10 Thứ nhất, kênh phân phối là công cụ chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối, trao đổi hàng hoá làm thoả mãn những nhu cầu cụ thể của nhóm khách hàng mục tiêu, khắc phục những ngăn cách về không gian, thời gian và quyền sở hữu hàng hoá và dịch vụ với những người muốn sử dụng chúng. Trong kinh doanh mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, ngoài các yếu. ó khác, vấn đề tối thiểu hoá chỉ phí trong sản xuất được coi là vấn đề nóng của mọi Công ty. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tối thiểu hoá chỉ phí, và một trong những cách đề tối thiêu hoá chi phí và có nhiều lợi nhuận là dựa vào hệ thống kênh phân phối vì chính kênh phân phối sẽ giải quyết được mâu thuẫn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Nhà sản xuất muốn tận dụng và tối thiểu hoá chỉ phí vì thế họ không thể đặt cơ sở sản xuất ở mọi địa bàn, mọi nơi, mọi chỗ được. Còn người tiêu dùng thì họ lại sốngở tất nhiều nơi khác nhau mà nhu cầu cá nhân nhiều, nhưng tổng nhu cầu chưa chắc đã cao và nếu có cao thì việc lập thêm một cơ sở sản xuất không phải là chuyện đơn giản vì liên quan đến nhiều yếu tố. Do vậy thông qua kênh phân phối để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất Thứ hai, kênh phân phối thực hiện quá trình chuyên môn hoá và phân công lao động để nâng cao hiệu quả quá trình sử dụng các yếu t6 trong sản xuất kinh doanh, đáp ứng được sự phát triển của thị trường cũng như sự phong phú đa dạng của nhu cầu. Thứ ba, kênh phân phối tăng cường khả năng liên kết, hợp tác giữa các cá nhân và tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối tiêu thụ trong một mục đích chung.
Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng đồng thời thoả mãn những mục tiêu riêng của mỗi bên. như chúng ta đứng trên góc độ marketing thì kênh được xem như là một phận của chiến lược phân phối, một phần của chiến lược marketing - mix của doanh nghiệp vì trong marketing_- mix có 4 chữ P và một trong những chữ P i đó là Place (kênh phân phối).2 Chức năng của kênh phân phối Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khác biệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với những người sử dụng hàng hoá dịch vụ. Tất cả các thành viên của kênh phải thực hiện những chức năng chủ yếu sau: Chức năng trao đổi, mua bán: Đây là chức năng phổ biến nhất của kênh phân phối và thực chất của chức năng này là việc thực hiện các hoạt động mua bán.
Chức năng mua bao hàm việc tìm kiếm, đánh giá giá trị của hàng hoá và dịch vụ, còn chức năng bán liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm. Nó bao gồm việc sử dụng bán hàng cá nhân, quảng cáo và phương pháp marketing khác. Chức năng phân loại, sắp xếp hàng hoá: Chức năng này liên quan đến việc sắp xếp hàng hoá theo chủng loại va số lượng. Điều này làm cho việc mua bán được dễ dàng hơn vì giảm được nhu cầu kiểm tra và lựa chọn Chức năng vận tải: Hàng hoá được chuyển từ điểm này đến điểm khác, nhờ đó giải quyết được mâu thuẫn vé không gian giữa sản xuất và tiêu dùng Chức năng lưu kho và dự trữ hàng hoá: Chức năng này có liên quan đến lưu trữ hàng hoá, dịch vụ trong kho tàng bến bãi, cung cấp hàng hoá dịch vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất.
Đồng thời đây cũng. là chức năng nhằm duy trì mức phân phối ôn định cho khách hàng trong điều kiện thị trường có nhiều biến động. Chức năng đảm bảo tải chính: Liên quan đến việc cung cấp tiền mặt và tín dụng cần thiết đến việc vận tải, lưu kho, xúc tiến bán.