CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MARKETING 11TONG QUAN VE MARKETING VÀ CHÍNH SÁCH MARKETING 1.1 Khái niệm về Marketing và chính sách Marketing a. Khéi niệm Marketing Nguyên nhân sâu xa để làm xuất hiện marketing là cạnh tranh. Có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về marketing, tuy nhiên tựu trung lại chúng ta có. thể hiểu rằng đây là một thuật ngữ chỉ các hoạt động trong các tô chức bao.
gồm việc tạo dựng giá trị từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng mô hình marketing (marketing — mix) sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và chiến dịch truyền thông — cổ động. với mục đích nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của một hoặc nhiều nhóm khách hàng nhất định và thu về giá trị lợi ích từ những giá trị đã được tạo ra. Khái niệm Marketing của Philip Kotler: “ Marketing Id hoat dong ctia con người hướng tới thỏa mãn như cầu và ước muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi ” [ [1Ị, trang 9] “Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đối nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người, Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gằm cả 16 chức) nhằm thỏa mạn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi” [[I], trang 10] Khái niệm về Marketing, cho thấy hoạt động Marketing là rất phong phú. Các doanh nghiệp luôn phải biết ứng dụng một cách hợp lý nhằm phân tích thực tiễn marketing của doanh nghiệp, lựa chọn các hoạt động Marketing.
phù hợp để đưa ra những chính sách marketing có tính kha thi 1.2 Vai trò Marketing trong doanh nghiệp Trần Minh Đạo (2009): Một doanh nghiệp muốn n tại thì phải có các hoạt động chức năng cơ bản như: sản xuất, tài chính, quản trị nhân lực. Nhưng các chức năng quản lý sản xuất, chức năng quản lý tài chính, chức năng quản lý nhân lực chưa đủ đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, và càng. không có gì đảm bảo chắc chắn cho sự thành đạt của doanh nghiệp, nếu tách rời nó khỏi một chức năng khác-chức năng kết nối mọi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường. Chức năng này thuộc một lĩnh vực quản lý khác ~ quản lý marketing.
“Như vậy, chỉ có marketing mới có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho các hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường-nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho. mọi quyết định kinh doanh” |[1],trang 19] Hiểu rõ vai trò của marketing thật sự giúp ích cho doanh nghiệp dễ dàng, thực hiện được mục tiêu chung của tổ chức và phát triển bền vững doanh nghiệp.3 Chính sách Marketing Chính sách marketing là những quyết định, nguyên tắc chỉ đạogắn với hoạt động marketing nhằm hỗ trợ và thúc đây việc thực hiện các mục tiêu đã xác định. Chính sách marketing sẽ phải chỉ ra và hướng dẫn nhà quản trị trong. lĩnh vực bán hàng và marketing biết được ai sẽ bán, bán cái gì, bán cho ai, số lượng bao nhiêu và như thể nào.
Marketing là hoạt động bao gồm nhiều chính sách cụ thể mà việc thực hiện chúng có ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của giai đoạn thực hiện chiến lược, trong đó bao gồm bốn chính sách chủ yếu chính sách sản phẩm (produce), giá cả (price), phân phói (place), và xúc tiến (promotion). Doanh nghiệp xác định mục tiêu của chính sách marketing như sau: a. Mục tiêu tăng trưởng “Tăng số lượng khách hàng là bước đầu tiên của hầu hết các nhà quản lý và các chủ doanh nghiệp để phát triển doanh nghiệp của mình. Với mục tiêu này doanh nghiệp tập trung vào việc mở rộng quy mô toàn thị trường và tăng thị phần của doanh nghiệp bằng nhiều giải pháp như thu hút khách hàng, khác biệt hóa và tìm công dụng mới của sản phẩm.
b, Mục tiêu thị phin Khi đoanh nghiệp chọn mục tiêu thị phần nghĩa là doanh nghiệp mong muốn giành thêm thị phần nào đó từ đối thủ. Doanh nghiệp sẽ sử dụng những lợi thế chỉ phí thấp, khả năng cung cấp sản phẩm có giá trị cao hơn so với giá cả để có thế tắn công vào các đối thủ nhằm giành được lợi thế cạnh tranh. Mục tiêu an toàn Với mục tiêu an toàn doanh nghiệp đặt mục tiêu bảo vệ thị phần hiện có, cảnh giác trước sự tấn công của đối thủ cạnh tranh. Khi đó để đảm bảo an toàn, chống lại nguy cơ bị phụ thuộc hoàn toàn vào một thị trường, một sản phẩm thì doanh nghiệp phải thực hiện chính sách đa dạng hoá sản phẩm, tìm tòi sản phẩm mới, thị trường mới để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai 1.
PHÂN ĐOẠN THỊ TRƯỜNG VÀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU 10 1. Các khái niệm thị trường, a. Thị trường và dự báo nhu cầu thị trường Theo quan điểm Marketing, thị trường là tập hợp tất cả những người mua thật sự hay người mua tiềm năng đối với một một sản phẩm. Doanh nghiệp cần ước lượng nhu cầu hiện tại và nhu cầu tương lai của thị trường sản phẩm, xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đó bởi đây là vấn để ảnh hưởng đến cách thức thâm nhập thị trường của doanh nghiệp.
Phân đoạn thị trường: Phân đoạn thị trường là một tiến trình đặt khách hàng của một thị trường / sản phẩm vào các nhóm mà các thành viên của mỗi phân đoạn có đáp ứng tương tự nhau đối với một chiến lược định vị cụ thể. e Thị trường mục tiêu: Là thị đoạn thị trường mà doanh nghiệp chon lựa để làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng của đoạn thị trường đó, qua đó nhằm. đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Phân đoạn thị trường Trong thị trường có rất nhiều người mua.
Vì nhu cầu, mong muốn của từng người mua là rất khác nhau, không nhất quán nhau, chia thành những đoạn thị trường khác nhau. Nhiệm vụ của người bán hàng phải lên kế hoạch cụ thể phù hợp với từng khách hàng, từng đoạn thị trường đó. Do đó, doanh nghiệp phân đoạn thị trường người tiêu dùng có thể dựa vào các tiêu thức sau a. Phân đoạn theo khu vực địa lý Phân đoạn địa lý đòi hỏi doanh nghiệp chia thị trường thành các đơn vị địa lý như: quốc gia, vùng, miền, thành phó, ngoại ô.
Doanh nghiệp lựa chọn một vùng địa lý hoặc một vài hoặc tất cả để hoạt động nhưng doanh nghiệp. cần đặc biệt chú ý đến sự khác biệt giữa các vùng địa lý này, để đảm bảo được 1 hoạt động của doanh nghiệp đúng mong muốn, nhu cầu của khách hàng nằm. trong vùng này. Phân đoạn theo đặc điểm nhân khẩu “Trong phân đoạn này, doanh nghiệp chia thị trường thành các phần khác.
nhau theo độ tuổi, giới tính, kích thước gia đình, chu kỳ sống gia đình, thu nhập, tình trạng hôn nhân, việc làm, giáo dục, tôn giáo, thế hệ, quốc tịch và giai tầng xã hội. Qua đó, doanh nghiệp có thể đễ dàng đo lường được ước. muốn, nhu cầu của những khách hàng trong đoạn thị trường này. © Phân đoạn theo tâm lý tiêu dùng Doanh nghiệp chia khách hàng thành những nhóm khác nhau dựa vào các đặc điểm của từng cá nhân người mua như: tính cách, tâm lý, lối sống, cá tính, giá trị văn hóa.
4L Phân đoạn theo hành vĩ Là thị trường người tiêu dùng sẽ được phân chia thành các nhóm đồng nhất về các đặc tính như: lý do mua hàng, lợi ích tìm kiếm, sự trung thành, số lượng và tỷ lệ sử dụng, cường độ tiêu thụ, tỉnh trạng sử dụng. * Lý do mua hàng. Người mua sẽ được phân biệt theo những lý do mua khác nhau (mua cho nhu cầu cá nhân, mua cho nhu cầu gia đình, mua cho. nhu cầu công việc, mua cho nhu cầu giao tiếp).
Việc phân đoạn theo lý do mua hàng có thể giúp doanh nghiệp không chỉ đáp ứng đúng lý do mua hàng, của khách hàng mà còn giúp họ đưa ra kiểu sử dụng mới ở những sản phẩm hiện có, nhằm tăng mức tiêu thụ ở người tiêu dùng. Lợi ích tìm kiếm. Tiền đề của cách phân đoạn này là lợi ích mà người mua tìm kiếm khi sử dụng sản phẩm. Cách phân đoạn này là một cách tiếp cận thị trường tốt nhất để có thể xác định rõ nhu cầu ước muốn của 12 nhóm người mua cụ thể đối với từng nhãn hiệu hàng hóa.
Việc cung cấp các loại nhãn hiệu thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng sẽ dễ dàng hơn, vì người cung ứng đã có một khái niệm tương đối cụ thể và rõ rang về nhãn hiệu đó. v/ Số lượng và tỷ lệ tiêu dùng. Với tiêu thức này, thị trường tổng thê được phân thành các nhóm dùng nhiều, dùng thường xuyên, dùng ít, dùng vừa phải. Tiêu thức số lượng và tỷ lệ tiêu dùng giúp cho người làm marketing có một khái niệm đúng đắn về một “quy mô thị trường có hiệu quả”.
Trong hầu hết các trường hợp, cầu của đoạn thị trường không chỉ phụ thuộc vào số lượng khách hàng mà còn phụ thuộc vào sức mua của nhóm khách hàng trong phân đoạn đó. Những đoạn thị trường dù chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng sức mua lớn thì sẽ có mức tiêu thụ lớn. Mức độ trung thành với nhãn hiệu. Theo mức độ này, khách hàng sẽ được chia thành các nhóm khách hàng trung thành, khách hàng hay dao động, khách hàng hoàn toàn không trung thành.
Phân đoạn thị trường theo mức độ này giúp cho các doanh nghiệp biết được mức độ chấp nhận của khách hàng về sản phẩm, thương hiệu của họ và các đối thủ cạnh tranh.Xác định thị trường mục tiêu a. Đánh giá các đoạn thị trường. Khi các doanh nghiệp đã phân đoạn thị trường xong rồi thì tiến hành đánh giá các đoạn thị trường này. Việc đánh giá các đoạn thị trường dựa vào các đặc điểm: qui mô, mức độ tăng trưởng của đoạn thị trường, sự lôi cuốn, thu hút của đoạn thị trường này ra sao.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xem. xét đến yếu tố như mối đe dọa từ đoạn thị trường đó từ đối thủ cạnh tranh, mỗi đe dọa của những sản phẩm thay thé. Va sau cùng, doanh nghiệp xem xét 13 đến nguồn lực của công ty xem có đủ năng lực đáp ứng cho đoạn thị trường. mà mình lựa chọn không? Sự đáp ứng của doanh nghiệp làm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng nằm trong đoạn thị trường này.
Một đọan thị trường có thể có quy mô và tốc độ tăng trưởng như mong muốn nhưng vẫn không hấp dẫn nếu mức độ cạnh tranh diễn ra trong đoạn đó quá gay gắt.