Chương 1: Cơ sở lý luận về Marketing đối với hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing đối với hoạt động huy động tiền gửi tại Vietcombank Đà Nẵng giai đoạn 2018 - 2020. Chương 3: Giải pháp Marketing đối với hoạt động huy động tiền gửi tại Vietcombank Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, bản thân đã tìm hiểu nghiên cứu các tài liệu, website, số liệu tại đơn vị liên quan đến hoạt động marketing.
Dưới đây là một liệu, website tiêu biểu có liên quan đế: tài mà cá nhân đã nghiên cứu.Về cơ sở lý thuyết Lý thuyết về marketing trong ngân hàng và việc vận dụng marketing được các tác giả sau đề cập Pierre Eiglier - Eric Langeard trong cuốn Marketing dich vu. NXB Khoa hoc ky thuat; tac gi Philip Kotler trong cuén Những nguyên lý tiếp thị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh [16], [17]; tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp (Chủ biên) trong cuốn Giáo trình Marketing ngân hàng, NXB Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh [4]; tác giả Lê Thế Giới (chủ biên) trong cuốn Quản tri marketing định hướng giá trị, NXB Lao động xã hội [8]; tác giả Phạm Ngọc Phong trong cuốn Marketing trong ngân hàng, NXB Thống kê Hà Nội [18]: tác giả Nguyễn Thượng Thái trong cuốn Quản trị marketing dịch vụ, NXB Học viện công nghệ Bưu chính viễn thông [21]. Những giáo trình trên giúp tác giả có được cơ sở lý thuyết về marketing, các bước của tiến trình marketing và đặc điểm của marketing dịch vụ, là nền tảng giúp tác giả hình thành nên phần cơ sở lý luận cho đề tài. Về cơ sở thực tiễn + Nguyễn Hồng Yến, Vũ Thị Kim Thanh (2017), “Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi của các ngân hàng thương mại".
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công. nghiệp, số tháng 04/2017. Các tác giả cho rằng: Nghiệp vụ huy động tiền gửi không có tác động trực tiếp đến lợi nhuận của mỗi ngân hàng, nhưng nó chính là nguồn vốn chủ lực giúp cho các sản phẩm đầu ra hoạt động thuận lợi và có hiệu quả cao. Tuy nhiên hiện nay một số ngân hàng đang gặp khó khăn trong quá trình sử dụng vón, khi nguồn huy động vào với thời hạn ngắn nhưng nhu cầu cho vay lại dài.
Nguồn huy động đầu vào không đủ cung cấp cho đầu ra, dẫn đến nhiều khó khăn cho các ngân hàng: mắt uy tín với khách hàng khi không đủ nguồn cho vay hay cho vay không thu hồi được thì không thể trả lãi cho khách hàng huy động. Vì vậy, tác giả đã đưa ra một số giải pháp về cơ chế điều hành, cơ cấu, sản phẩm về vốn, quy trình giao dịch, kênh phân phối. khá hiệu quả. Nhưng vì quá tập trung vào chính sách mà tác giả đã quên đi đầu tư về lượng phục vụ, trong khi đó là yếu tố tác động trực tiếp để thu hút khách hàng [23] + Ninh Thị Thúy Ngân (2019) “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động tiễn gửi của các ngân hàng thương mại”, Tạp chí Tài Chính tháng 2/2019.
Trong nghiên cứu này, ác tác giả cho rằng: Mỗi ngân hàng có thành công hay that bại là nhờ vào chính sách hoạt động của nó. Bên cạnh đó, việc huy động có tốt hay không, không những phụ thuộc vào những sản phẩm, chương trình khuyến mãi hay ưu đãi giành riêng cho khách hàng mà còn phụ thuộc vào cả tình hình “sức khỏe” của nền kinh tế. Đó chính là nghệ thuật tạo nên sự hấp dẫn của ngân hàng trước mỗi khách hàng của họ trong thời buổi kinh tế cạnh tranh như hiện nay. Bởi mỗi ngân hàng hiện nay, không những cạnh tranh với các đối thủ trong nước mà còn nước ngo; Khi đó, họ phải đưa ra chính sách lãi suất hợp lý, chính sách marketing hấp dẫn, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường quốc tế đề đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, tác giả không đề cập tới thị hiếu của khách hàng, nên chưa kết luận được họ cần gì để đưa ra những sản phẩm mà khách hàng cần chứ không.
phải là bán những gì ta có [14] + Nguyễn Trọng Tài (2016) “Tâm lý nhà đầu tư trên thị trường tài chinh Viét Nam”, Tap chi ngân hàng tháng 12/2016. Bài viết này đã phân tích các đặc điểm tâm lý của người Việt như: tâm lý tự tin thái quá, tâm lý hối tiếc, tâm lý bẩy đàn, tâm lý bảo toàn. Bên cạnh tâm lý, tác giả còn cho thấy việc huy động tiền gửi còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi lứa tuổi, sự đơn điệu trong, các dịch vụ, sản phẩm huy động truyền thống, tính thanh khoản của một số ngân hàng thấp. Vì thế, bài viết đã giải thích rất rõ nguyên nhân các ngân hàng thường gặp khó khăn trong huy động tiền gửi như thế nào.
Đây là yếu tố phức tạp, khiến cho thị trường tài chính luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao. Đặc biệt, trong bài viết, tác giả nêu rõ sự khó khăn nhất đó là tâm lý bầy đàn, do nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân đến cùng một lúc như: kiến thức kém, tính chuyên nghiệp thấp, giao dịch nội gián không thể kiểm soát được.Mặt khác, khả năng “Marketing truyền miệng” cộng thêm sự tiến bộ của hệ thống công nghệ ngày càng cao làm cho hậu quả của nó không thể lường trước được [20] + Trần Ngọc Duy (2017), “Giái pháp Marketing tín dụng bán lẻ của ngân hàng Thương mại Cổ phân Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chỉ nhánh Đắk Lắk”, Đề tài luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Đề tài nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về các gị hap marketing cho dịch vụ của ngân hàng, đánh giá thực trạng hiện tại, đồng thời còn đề xuất các giải pháp đề hoàn thiện hoạt động marketing cho ngân hàng [5] + Vũ Ngọc Anh (2016) “Hoàn thiện chính sách marketing tại ngân hàng TMCP Kỹ thương - Chỉ nhánh Đà Nẵng”, Đề tài luận văn thạc sĩ. Đề tài này đã cung cấp cho tác giả những định hướng về việc phát triển Marketing dịch vụ ngân hàng hiện nay, đồng thời cũng cung cấp những tư liệu quí giá thông qua việc phân tích, đánh giá và so sánh các đối thủ cạnh tranh, cũng như đưa ra những nguyên nhân và hạn chế của các ngân hàng, từ đó giúp tác giả có thêm cơ sở để đề xuất những giải pháp và các kiến nghị nhằm phát triển hoạt động dịch vụ thẻ tại ngân hàng [I] + Trần Lê Định (2014) “Hoàn thiện chính sách marketing tại chỉ nhánh ngân hàng TMCP Ngoại thương - Chỉ nhánh Phú Tài ", Đề tài luận văn thạc sĩ. Đề tài đã giúp cho tác giả thấy được tình hình, thực trạng chính sách Marketing của ngân hàng, đồng thời cũng qua đó giúp tác giả có được định hướng và tham khảo được phương pháp nghiên cứu cũng như các đề xuất giải pháp Marketing để phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng.
Ngoài ra, thông qua đề tài, tác giả cũng đã kế thừa được những cơ sở lý thuyết có liên quan, nhất là những khái niệm về dịch vụ ngân hàng để từ đó giúp tác giả hoàn thiện hơn phần cơ sở lý thuyết của đề tài [7]. Tóm lại, qua nghiên cứu các bài báo, các luận văn trên phần nào đã cho thấy được thực trạng vấn đề huy động tiền gửi hiện nay tại các ngân hàng thương mại cổ phần, làm rõ những tồn đọng cũng như nêu bật những điểm mạnh của các chính sách sản phẩm và tiềm năng tại các ngân hàng. Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhiều yếu tố mà các chính sách đó có phù hợp hay không như: tình hình kinh tế chính trị, biến động của thị trường, tâm lí của người tiêu dùng. Và những chính sách đó nó có tác động đến bản thân các ngân hàng và cho khách hàng như thế nào.
Bên cạnh đó, mỗi ngân hàng sẽ có một quy trình riêng, đặc thù sản phẩm của ngân hàng đó cũng sẽ khác nhau. Về cơ bản, các tài liệu trên đều đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về marketing dịch vụ, marketing ngân hàng, các chính sách marketing trong kinh doanh dịch vụ ngân hàng; từ việc phân tích, đánh giá những mặt mạnh, hạn chế của hoạt động marketing tại ngân hàng, các tác giả đã đề xuất các giải pháp marketing phù hợp với tình hình thực tế thị trường đề tiếp tục duy trì, phát huy thế mạnh, khắc phục mặt hạn chế đề phát triển dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, các tài liệu trên chưa giải quyết được một số như sau: hạn chế về thời gian nghiên cứu làm cho một số thực tiễn về marketing. huy động tiền gửi ít được đề cập đến trong nội dung đề tài và được trình bày trong các đề tài trên đã không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay với những thay đổi không ngừng về công nghệ hiện đại, các ngân hàng đã và đang chuyên hình thức giao dịch truyền thống sang giao dịch trực tuyến thông qua máy tính, điện thoại thông minh có kết nối internet, đặc biệt là chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến vấn đề này tại Vietcombank - Chi nhánh Đà Nẵng.
Vì vậy, đây cũng chính là vấn đề mà tác giả lựa chọn để giải quyết trong luận văn này. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SACH MARKETING DOI VOI HOAT DONG HUY DONG TIEN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THUONG MAI 1. TÔNG QUAN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ CHÍNH SÁCH MARKETING DOI VOI HOAT DONG HUY DONG TIEN GUI 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Theo tác giả Nguyễn Chí Dũng (2006) thì ịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng vẻ vốn, tiên tệ, thanh toán,.
mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,. và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ gid hay thu phí thông qua dich vụ ấy”. [6] Một số tác giả khác lại có quan điểm rằng: tất cả các hoạt động nghiệp. vụ của một ngân hàng thương mại đều được coi là hoạt động dịch vụ.
Quan niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong Hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết khi gia nhập. Nó cũng phù hợp với nội dung của Hiệp định thương mại Việt ~ Mỹ. Trong phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, ngân hàng là ngành được phân tô trong lĩnh vực dịch vụ. [14] Hiện nay, chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ ngân hàng và cũng không có sự phân biệt rõ ràng giữa dịch vụ ngân hàng các dịch vụ tài chính khác.