CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG HOẠT ĐỌNG NGÂN HÀNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MARKETI NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về marketing. “Trải qua 100 năm hình thành và phát triển, nội dung của Marketing đã có nhiều thay đôi.
Theo một số quan điểm và khái niệm Marketing hiện đại của các tổ chức, hiệp hội và các nhà nghiên cứu về Marketing trên thế giới được chấp nhận và phô biến: * Theo CIM (UK’s Chartered Institute of Marketing): “Marketing là quá trình quản trị nhận biết, dự đoán và đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả và có lợi” * Theo AMA (American Marketing Association, 1985): Marketing 1a tiến trình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiền và phân phối những ý tưởng, hàng hoá và dịch vụ dé tạo ra sự trao đổi và thoả mãn những mục tiêu của cá nhân và tổ chức” * Theo Groroos (1990): “Marketing là những hoạt động thiết lập, duy trì và củng cố lâu dài những mối quan hệ với khách hàng một cách có lợi để đáp ứng mục tiêu của các bên. Điều này được thực hiện bằng sự trao đổi giữa các bên và thoả mãn những điều hứa hen”. * “Marketing là tiến trình mà qua đó các cá nhân và các nhóm có thể đạt được nhu cầu và mong muốn bằng việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm và giá trị giữa các bên”. (Ngudn: Principle of Marketing", Philip Kotler and Gary Armstrong, 1994) * “Marketing là một hệ thống các hoạt động kinh doanh thiết kế đẻ hoạch định, định giá, xúc tiến và phân phối sản phẩm thoả mãn mong muốn của những thị trường mục tiêu ciia t6 chite: (Ngudn: “Fundamentals of Marketing”, William J.
Mục tiêu và nội dung hoạt động của marketing. Mục tiêu hoạt động của marketing Hướng theo Sự thoả mãn khách hàng J của khách hàng Mục tiêu của tổ chức Phối hợp các ` Sự thành công hoạt động. của tổ chức Marketing Sơ đồ 1. Mục tiêu Marketing (Nguồn: “Fundamentals of Marketing”, William J.Stanton, 1994) Marketing hướng đến ba mục tiêu chủ yếu sau: ~ Thoả mãn khách hàng : Là vấn đề sống còn của công ty, các nỗ lực Marketing nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho họ hài lòng, trung.
thành với công ty, qua đó thu phục thêm khách hàng mới. ~ Chiến thắng trong cạnh tranh: Giải pháp Marketing giúp công ty đối phó tốt các thách thức cạnh tranh, đảm bảo vị thế cạnh tranh thuận lợi trên thị trường. ~ Lợi nhuận lâu dài: Marketing phải tạo ra mức lợi nhuận cần thiết giúp công ty tích luỹ và phát triển b. Nội dung hoạt động của marketing “Từ những khái niệm về Marketing, ta có thể rút ra một số nhận xét sau: ~ Marketing là tiến trình quản trị.
được xem là một bộ phan chức năng trong một tổ chức và cần có nhiều kỹ năng quản trị. Marketinh cần hoạch định, phân tích, sắp xếp, kiểm soát và đầu tư các nguồn lực vật chất và con người. Dĩ nhiên, Marketing cũng cần những kỹ năng thực hiện, động viên và đánh giá. Marketing giống như những hoạt động quản trị khác, có thể tiến hành hiệu quả và thành công nhưng cũng có thể kém cỏi và thất bại.
~ Toàn bộ các hoạt động Marketing theo hướng khách hàng. Marketing phải nhận ra và thoả mãn những yêu cầu, mong muốn của khách hàng. Marketing bắt đầu từ ý tưởng về “sản phẩm thoả mãn mong muốn” và không. dừng lại khi những mong muốn của khách hàng đã đạt được mà vẫn tiếp tục sau khi thực hiện sự trao đồi.
~ Marketing thoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả và có lợi. Một tổ chức không thể thoả mãn tất cả mọi người trong mọi lúc, các nhà làm Marketing đôi khi phải có sự điều chỉnh. Hiệu quả ở đây có ngụ ý là các hoạt động phải phù hợp với khả năng nguồn lực của tổ chức, với ngân sách và với mục tiêu thực hiện của bộ phận Marketing. Marketing được thực hiện trong những tổ chức phi lợi nhuận cũng cần quản trị có hiệu quả, kiểm soát chỉ phí nhưng không vì lợi nhuận.
Trái lại, trong các doanh nghiệp khả năng tạo lợi nhuận phải được xem xét một cách chính đáng. Tuy nhiên một số công ty chấp nhận lỗ trên một vài sản phẩm. hoặc khu vực thị trường để hướng đến mục tiêu chiến lược rộng hơn, lâu đài hơn, nhưng điều này phải được hoạch định và kiểm soát. Nói chung, một tổ chức không tạo ra lợi nhuận thì không thể tồn tại, do vậy Marketing có nhiệm vụ duy trì và gia tăng lợi nhuận.
~ Trao đổi là khái niệm quyết định tạo nền móng cho Marketing. Tuy nhiên các hoạt động Marketing lại tạo điều kiện quá trình trao đổi diễn ra thuận lợi nhằm mục đích thoả mãn những đòi hỏi và ước muốn của con người ~ Nội dung hoạt động Marketing bao gồm thiết kế, định giá, xúc 10 phân phối sản phẩm. Marketing dùng những phương pháp này để kích thích sự trao đổi. Bằng việc thiết kế, tạo sự tỉnh tế cho sản phẩm, đưa ra giá bán hợp lý, xây dựng nhận thức và ưu thích, đảm bảo khả năng cung cắp, các nhà Marketing có thể làm gia tăng mức bán.
Do vậy Marketing có thể xem là hoạt động quản trị nhu cầu thị trường. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của marketing dịch vụ ngân hàng & Khái niệm marketing dịch vụ ngân hàng Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của Marketing vào. lĩnh vực dịch vụ có tính đến những đặc thù của dịch vụ và kinh doanh dịch vụ. “Marketing dịch vụ là quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn nhu cầu của thị trường, mục tiêu đã lựa chọn và xác định bằng quá trình phân phối các nguồn lực của các tổ chức nhằm thoả mãn nhu cầu đó, Marketing được xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ và nhu cầu của người tiêu thụ cùng với nhứng hoạt động.
của đối thủ cạnh tranh” [11] Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các chức năng trung gian giữa hai hay nhiều bên trong một hoạt động tài chính nhất định. Nói cách khác trung gian tài chính là một tổ chức hỗ trợ các kênh luân chuyển vốn giữa người cho vay và người đi vay theo phương thức gián tiếp. Ngân hàng có thể định nghĩa đơn giản là tổ chức hoạt động kinh doanh cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động của Ngân hàng là cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính đến khách hàng mục tiêu.
Sức cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng cũng giống như trong lĩnh vực dịch vụ. Giá trị vô hình nhiều khi là sức mạnh chính thống của Ngân hàng. " Marketing dịch vụ Ngân hàng thuộc nhóm Marketing dịch vụ. Như vậy, có thể để đạt đuợc mục tiêu đạt ra là thoả mãn nhu cầu về vốn, về các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, các biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận.
“Marketing ngân hàng là một hệ thống các biện pháp tô chức quản lý một cách khoa học, tiến bộ để thông qua quá trình tìm hiểu khách hàng, lựa chọn các phân khúc khách hàng mục tiêu nhằm đưa đến các giải pháp đồng bộ. Hay nói cách khác, đó chính là các quá trình nhận thức thông. qua việc điề ế hoạch kích thích. để đáp ứng nhu cầu của các khách hàng tốt hơn đối thủ cạnh tranh và không phương hại đến các lợi ích xã hội” BỊ b.
Đặc điễm marketing dịch vụ Ngân hàng Marketing ngân hàng là một loại hình marketing chuyên sâu (chuyên ngành) được hình thành trên cơ sở quan điểm của Marketing hiện đại. Tuy nhiên, marketing ngân hàng có những đặc điểm khác biệt so với Marketing. thuộc các lĩnh vực khác [3] * Marketing Ngân hàng là loại hình Marketing dịch vụ tài chính Các ngành dịch vụ rất đa dạng và phòng phú, dịch vụ bao gồm nhiều. loại hoạt động, cho nên cũng có nhiều cách hiểu.
Theo Philip Kotler, “dich vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến chuyển quyền sở hữu”. Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm của dịch vụ sẽ là căn cứ để tổ chức tốt các quá trình Marketing ngân hàng. Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng đã dẫn đến việc khách hàng. không nhìn thấy, không thể nắm giữ được, đặc biệt là khó khăn trong đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua.
Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân 12 hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản phẩm dịch vụ như địa điểm giao dịch, mức độ trang bị công nghệ, uy tín của ngân hàng. Tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm của ngân hàng. Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường xảy ra đồng thời với quá trình tiêu thụ. Chính điều này đã làm cho sản phẩm dịch vụ ngân hàng không.
có khả năng lưu trữ. Lý do này đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống, phương. pháp phục vụ nhanh với nhiều quầy, nhiều địa điểm giao dịch. * Marketing ngân hàng là loại hình marketing hướng nội.
Thực tế cho thấy so với marketing các lĩnh vực khác, Marketing ngân hàng phức tạp hơn nhiều bởi tính đa dạng, nhạy cảm của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia đồng thời của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng. Nhân viên là yếu tố quan trọng trong quá trình cung ứng, chuyển giao sản phâm dịch vụ ngân hàng. Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn thể nhân viên ngân hàng theo định hướng phục vụ khách hàng ngày càng. tốt hơn được gọi là Marketing hướng nội.
Thực hiện Marketing hướng nội, hiện nay các ngân hàng đều tập trung vào việc dao tạo nâng cao trình độ toàn diện cho nhân viên ngân hàng, đưa ra những chính sách vẻ tiền lương, đãi ngộ khuyến khích nhân viên làm việc tích cực, bố trí công việc hợp lý, từng bước. xây dựng phong cách văn hoá riêng của ngân hàng mình - văn hoá kinh doanh ngân hàng. * Marketing ngân hàng thuộc loại hình Marketing quan hệ. Marketing quan hệ đòi hỏi bộ phận Marketing phải xây dựng được những mối quan hệ bền lâu, tin tưởng lẫn nhau và cùng có lợi cho cả khách hàng và ngân hàng bằng việc luôn giữ đúng các cam kết, cung cấp cho nhau.