Chương I: Cơ sở lý luận về truyền thông marketing Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông marketing dịch vụ hoá đơn điệt tử tại Viettel Quảng Ngãi Chương 3: Giải pháp truyền thông marketing dịch vụ hoá đơn điện tử tại Viettel Quảng Ngãi 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đối với doanh nghiệp kinh doanh những sản phẩm, dịch vụ cũng có. ối thủ cạnh tranh khác cùng kinh doanh trên thị trường thì ngoài việc có ưu thế về chất lượng, giá cả kênh phân phối,.thì việc nhanh chóng nắm thời cơ đề tiếp cận với số đông khách hàng để họ lựa chọn sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của một sản phẩm, dich vu. Dé lam được điều đó thì không thể bỏ qua vai trò của truyền thông marketing.
Tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu, tổng hợp nhiều học liệu, bài báo nghiên cứu có liên quan đến luận văn đang thực nhằm mục đích hoàn thành tốt luận văn của mình, cụ thể: 1. Nhóm biên soạn: PGS. Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Xuân Lăn, ThS.
'Võ Quang Trí, ThS. Định Thị Lệ Trâm, Th. Quán tri marketing định hướng giá trị, NXB Tài chính. Nhóm biên soạn: PGS.
Phạm Thị Lan Hương (Chủ biên), TS Ngô Thị Khuê Thư, NCS.Ths Trần Nguyễn Phương Minh, TS. Nguyễn Thị Bích Thuỷ, TS Đường Thị Liên Hà, NCS.Ths Trương Trần Trâm Anh, PGS.TS Lê Van Huy (2018). Nghiên cứu Marketing, Nhà xuất bản Đà Nẵng. Philip KotlerlKevin Keller, Quản trị marketing, xuất bản lần thứ 15, NXE lao động xã hội.
Phạm Thúy Hồng (2009), Giải pháp truyền thông marketing của các công ty kinh doanh dịch vụ viễn thông tại Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Giáo dục-Đào tạo. Một số cơ sở lý thuyết về truyền thông marketing của công ty kinh doanh nói chung và gắn với đặc thù công ty kinh doanh dịch vụ viễn thông đã được tác giả hệ thống hoá, các giải pháp cũng có tính khả thi trên thực tế. Mặc dù vậy, đề tài của tác giả chưa đề cập nhiều đến truyền thông marketing tích hợp. Phan Thị Thu Hoài (2010), “Phát triển hoạt động marketing trực tiếp như là một trong các phương tiện truyền thông marketing tích hợp ”, luận án đã hệ thống các vân đề lý thuyết cơ bản, nghiên cứu thực trạng từ đó đề ra các hoạt động marketing trực tiếp của các công ty hoạt động trong lĩnh vực TM trên địa bàn Hà Nội.
Tuy nhiên, các giải pháp mà tác giả nêu ra tập trung nhiều vào marketing trực tiếp, chưa đưa ra các điều kiện áp dụng vào thực tế đơn vị nghiên cứu cũng như chưa bàn đến yếu tổ truyền thông marketing tích hợp. Bai viét “Evidence of Integrated Marketing Communications in Social Marketing", “Chứng cứ của truyền thông marketing Tích hợp trong Marketing Xa hoi" cua tác giả Jacinta, H. đăng vào năm 2011 trên tạp chí "Journal of Social Marketing" tập số 3 chỉ ra rằng, truyền thông marketing không chỉ ứng dụng trong các hoạt động marketing TM mà còn phải ứng dụng được vào hoạt động marketing. Những kinh nghiệm về hoạt động truyền thông marketing được sử dụng trong các chương.
trình xúc tiến hoạt động chăm sóc sức khỏe tại các trường học với các đối tượng người học và người lao động đã được tác giả chỉ ra. Lê Minh Chí (2020) ảnh hưởng của marketing tin đồn trực tuyến đến ý định mua hàng của người Việt Nam, nghiên cứu những phương thức marketing dựa trên nền tảng truyền miệng trực tuyến, luận án đã đề xuất 2 giai đoạn nghiên cứu xem xét truyền miệng trực tuyến ở 2 khía cạnh: hành vi và thông tin. Gheorghe ORZAN, Raluca-Florentina TIKA, Raluca-Giorgiana CHIVU, Stefan-Iie OANTA, Cristian Ionut COMAN (2017), "The Influence of the Marketing Communication on Consumer Behavior" (Su anh huéng cia truyền thông marketing đến hành Người tiêu dùng), Romanian Statistical Review - Supplement số 2/2017 đã cho rằng phương tiện và thông tin truyền thông là một trong những cách thức để kết nối giữa doanh nghiệp với khách hàng. Tác giả đã xác định một số phương tiện truyền thông marketing là một trong những cầu nói giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng.
Khi các doanh nghiệp đưa ra thị trường các sản phim mới, lúc này truyền thông marketing có nhiệm vụ thông báo, thuyết phục, gợi nhớ về các đặc điểm sản phẩm cũng như về doanh nghiệp có sức thu hút với khách hàng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngày càng có nhiều công cụ, phương pháp đề thuyết phục khách hàng mua hàng, những công cụ hiệu quả thường được sử dụng thường là để tác động vào tâm trí người tiêu dùng. Khi doanh nghiệp đưa ra một thông điệp thông qua vận dụng các kỹ thuật và phương tiện truyền thông thì nhận thức của khách hàng về thông điệp đó là không như nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần lựa chọn các phương tiệ „ kỹ thuật khác nhau để sao cho thông điệp doanh nghiệp mong muốn truyền tải có thể tiếp cận được đối tượng công chúng mục tiêu một cách đồng nhất cao nhất.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TRUYEN THONG MARKETING 1. MARKETING VA TRUYEN THONG MARKETING 1.1 Marketing va truyén thong a) Khái niệm marketing “Marketing là gì” là một câu hỏi có rất nhiều đáp án. Rất nhiều người nghĩ rằng nghĩ rằng Marketing là bán hàng và quảng cáo hay nghiên cứu thị trường. Thực chất đó là những công việc của marketing nhưng chưa phản ánh đầy đủ nội dung, bản chất của marketing.
Có hàng loạt các chuỗi hoạt động được diễn ra trong quá trình vận hành của doanh nghiệp. Trong đó, chuỗi hoạt động không phải là hoạt động sản xuất nhưng góp phần to lớn vào việc tạo được ra giá ¡ cho hàng hóa, dịch vụ. Chuỗi hoạt động này phải được tiến hành trước, trong quá trình sản xuất, trong tiêu thụ và cả sau khi bán hàng, đó chính là hoạt động marketing của doanh nghiệp. Ngày nay, hầu như các trường phái nghiên cứu học thuật về Marketing.
đều thống nhất ý kiến rằng Marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Nếu như trước đây, người ta có ý kiến cho rằng Marketing là làm sao quảng cáo tốt, bán được hàng thì hiểu rõ khách hàng mới là điều mà các nhà làm marketing ngày nay quan tâm, hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, từ đó cho ra đời những sản phẩm tốt, đem lại nhiều giá trị cho khách hàng, phân phối và truyền thông cổ động một cách hiệu quả, thì việc bán những sản phẩm đó trở nên dễ dàng hơn. Do vậy, bán hàng và quảng cáo cũng chỉ là một phần của phối thức Marketing mà thôi, một tập hợp các công cụ phối hợp nhịp nhàng với nhau nhằm ảnh hưởng đến thị trường. Marketing là “một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao đổi sản phẩm có giá trị với những người khác” [I,tr 25] b) Khái niệm truyền thông “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tr tưởng, tình cảm.
chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiễu người, nhóm người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, có thể dẫn tới thay đổi nhận thức, tiễn tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đông và xã hội "[6, tr 13] Truyền thông là tiến trình chia sẻ, trao đổi cả hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng công chúng mục tiêu, nhờ đó thông tin về các vấn đề, sự vật có liên quan được nhận biết. Quá trình trao đồi hai chiều ấy có thể được mô tả thông qua nguyên tắc bình thông nhau. Khi có sự khác biệt trong nhận thức, hiểu biết. giữa chủ thể và đối tượng công chúng mục tiêu với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông được diễn ra.
Quá trình truyền thông nhờ vậy mà chỉ kết thúc khi có sự cân bing trong nhận thức, hiểu biết. giữa chủ thẻ và đối tượng truyền thông. Về mục đích thì truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm để thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi, định hướng giá trị cho đối tượng côn chúng mục tiêu.2 Truyền thông marketing Theo Philip Kotler va Keller “tuyển thông marketing (marketing communication) la phwong tign mà các công ty dùng để truyền đạt, thuyết phục và nhắc nhở khách hàng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp về những sản phẩm và thương hiệu mà họ kinh đoanh " [5, tr 122]. Truyền thông marketing là một phần quan trọng của chương trình marketing tổng thể của hầu hết các doanh nghiệp, tổ chức.
Họ nhận ra rằng cach ma ho giao tiếp với khách hàng và các các đối tượng liên quan khác để thực hiện xúc tiến các sản phẩm và dịch vụ của họ đang thay đổi nhanh chóng và họ phải thay đổi, àu chỉnh để theo kịp sự thay đổi đó bằng cách hiểu, tận dụng và kết hợp sự đa dạng hóa của các công cụ truyền thông trong chương, trình marketing. Phối thức truyền thông cổ động hay còn gọi là phối thức truyền thông marketing, bao gồm sự kết hợp giữa các công cụ: quảng cáo, quan hệ công chúng, khuyến mãi, sự kiện và trải nghiệm, marketing trực tuyến và truyền thông mạng xã hội, marketing di động, marketing trực tiếp và sử dụng cơ sở dữ liệu, bán hàng cá nhân. Ngoài việc triển khai một sản phẩm/dịch vụ tốt, định giá hấp dẫn và tạo. khả năng tiếp cận sản phẩm cho khách hàng mục tiêu của mình, các doanh.
nghiệp cần phải truyền thông cho khách hàng và công chúng của họ về công ty và sản phẩm của công ty. Tuy nhiên, thông tin cần được truyền đạt đến khách hàng mục tiêu phải trải qua nhiều giai đoạn, bằng những phương tiện truyền thông khác nhau, dưới những hình thức thông đạt khác nhau và được thực hiện bởi những đối tượng truyền thông khác nhau. Thực chất của hoạt động truyền thông Marketing chính là việc đơn vị sử dụng các công cụ truyền thông để thông tỉn liên lạc với thị trường và khách hàng mục tiêu với mục đích thông báo cho biết về sự sẵn sàng có của sản phẩm, thuyết phục khác hàng sản phẩm này tốt hơn ở nhiều phương diện so với những sản phẩm cùng loại khác và nhắc khách hàng mua thêm khi đã đang hết các sản phẩm đã mua và sử dụng trước đó. Khi các mục tiêu đã đạt được thì là dấu hiệu để thấy rằng thị phần của công ty, sản lượng hàng hoá tiêu thụ và doanh số bán sẽ được cải thiện.
Truyền thông marketing đại diện cho “tiếng nói” của thương hiệu hoặc sản phẩm là cách thức đề thiết lập sự giao tiếp, xây dựng các mối quan hệ với khách hàng. Các thông điệp được thiết kế để khơi dậy nhận thức, quan tâm đẻ đi đến quyết định mua những sản phẩm và thương hiệu khác nhau của khách hàng.