CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO. MOT SO VÁN ĐÈ LÝ LUẬN LIÊN QUAN DEN DONG LUC VA TAO DONG LUC LAM VIEC 1. Động lực Có rất nhiều quan điểm, khái niệm và định nghĩa khác nhau vẻ động lực bởi lẽ từ sócđộ tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các khái niệm khác nhau. Theo Mitchell (1999), *Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” [23, tr.418] Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt của GS.
Hoàng Phê (1988), "đông lực là cái thúc day, làm cho phát triển”.368] Theo Maier và Lawder (1973), "Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân”. Theo Kreitner (1995), "động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Trong giáo trình Hành vi tổ chức của PGS. TS Bùi Anh Tuấn có đề cập ông lực là cái thúc đây hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi day tinh tích cực của chủ thể và xác định xu hướng của nó” [7, tr.
Dựa trên nhưng quan điểm về động lực đã trình bảy ở trên, có thể hiểu động lực là sự thúc đây từ bên trong mỗi cá nhân, hoặc do sự tác động từ bên ngoài nhằm khơi dậy tính tích cực của chủ thê hành động thỏa mãn mục tiêu của cá nhân và tổ chức. Động lực làm việc ‘Theo Giáo trình quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quan (2007) thi "động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của 10 người lao động đề tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [I, tr.134], theo giáo trình Hành vi tổ chức của T.S Bùi Anh Tuấn (2009) đề cập “Đông lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích. thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [7, tr.85], theo giáo trình Động lực làm việc trong tô chức hành chính nhà nước của Nguyễn Thị Hồng Hải (2013) thì “động lực là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [§, tr24] “Tóm lại, theo tác giả, động lực có thể được hiểu là sự kích thích, sự thúc đây từ bên trong chủ thể (người lao động) hoặc do sự tác động từ bên ngoài tới chủ thể khiến họ tự nguyện nỗ lực, phần đầu vì mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phân nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công chung của tổ chức. Động lực là yếu tố bên trong nhưng lại được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các dấu hiệu thái độ và hành vi, trong những hoàn cảnh, môi trường, làm việc cụ thể.
Thông qua nắm bắt được các biểu hiện động lực làm việc củ người lao động, các nhà quản lý sẽ đánh giá được động lực làm việc của họ để có sự tác động các chính sách quản lý nhân sự phù hợp nhằm tạo động lực cho họ, góp phần tăng năng xuất lao động. Về cơ bản, có 02 dấu hiệu biểu. hiện cần đặc biệt quan tâm, đó chính là: Về mức độ tham gia của người lao động vào công việc. Điều này có thê được biều hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau như mức độ tập trung vào công việc, mức độ kiên trì trước những nhiệm vụ khó khăn, mức độ tham gia vào.
các hoạt động tập thẻ, kết quả làm việc của nhân viên, nỗ lực đạt được các mục tiêu hay mức độ muốn rời bỏ công việc. " Về mối quan tâm nghề nghiệp của người lao động đối với công việc. Một phần dễ lý giải đó chính là mối quan tâm của họ tương ứng với sở thích, với những vấn đề mà họ coi trọng trong công việc đó hoặc hoàn cảnh làm việc mà họ cảm thấy dễ chịu. Những mối quan tâm nghẻ nghiệp của người lao đông đối với công việc yêu thích giúp họ thành công trong công việc đó.
Trên thực tế, các môi quan tâm nghề nghiệp có khả năng thể hiện sức hút của một nghề nghiệp hay công việc nào đó và cách tiếp cận theo môi quan tâm nghề nghiệp rất hữu ích bởi nó cho phép lồng ghép yếu tố động cơ vào. quá trình tìm kiếm sự hoà hợp giữa con người và công việc, đặc biệt trong. quá trình tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động nhân viên trong cơ quan. Động lực làm việc mang tính tự nguyện, nó là một trạng thái bên trong song có thể nhận biết thông qua những biểu hiện của con người như: nhận thức, thái độ, hành vi hoặc thông qua những nhu cầu cơ bản, chung nhất của con người (nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thẳn).
Con người khi có động lực làm việc đều cảm thấy thoải mái và tự nguyện trong thực hiện công việc. Không những họ có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao mà còn thực hiện một cách hứng khởi, sáng tạo và mang lại hiệu quả. Tạo động lực làm việc Dưới góc độ quản lý nhân sự, tạo động được hiểu là sự vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc. Nói cách khác, đó chính là việc áp dụng các cách thức quản lý đẻ tác động tới người lao động làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy ho hai lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tô chức.
Để tạo động lực cho người lao động, nhà quản lý phải sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm tác động tới các cá nhân trong tổ chức nhằm tạo ra động lực làm việc cho họ. 12 Tạo động lực cho người lao động là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc.TS Bùi Anh Tuấn (2009), “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thú thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc" [1, tr81], Tạo động lực vừa là trách nhiệm, vừa là mục tiêu của người quản lý. Xét theo quan điểm nhu cầu, quá trình tạo động lực cho người lao động bao gồm các bước: Nhu cầu không được thỏa mãn —+ Sự căng thẳng —» Các động cơ —> Hành vi tìm kiếm —› Nhu cầu được thỏa mãn —» Giảm căng thẳng. Nhu vay, Tạo đông lực là tat cả những hoạt động mà một tổ chức thực hiện đối với người lao động nhằm tác động tới hành động, thái độ, khả năng.
của người lao động trong việc thực hiện mục tiêu của tổ chức. CAC HQC THUYET VE DONG LUC LAM VIEC 1. Thuyết X và thuyết Y của Me.Gregor Me Gregor giả định có hai quan niệm khác biệt nhau về bản chất con người: cách nhìn nhận mang tính tiêu cực được gọi là Thuyết X và quan điểm mang tính chất tích cực gọi là thuyết Y. Sau khi quan sát các nhà quản trị giao tiếp với nhân viên, Mc.Gregor đã kết luận rằng quan điềm của các nhà quản trị về bản chất của con người là dựa trên một nhóm các sự giả định và từ đó nhà quản trị này có cách hành xử đối với nhân viên dựa trên những giả định này.
Những giả định của Thuyết X và Thuyết V Thuyết X “Thuyết V Bản chất của công nhân là lười nhác | Công nhân coi làm việc là đương không thích công việc và trốn tránh | nhiên giống như vui chơi, giải trí. bắt cứ lúc nào có thể 13 Thuyết X “Thuyết V Công nhân phải bị cưỡng chế, kiêm. Công nhân sẽ tự định hướng và tự soát hoặc đe doạ kỷ luật để đạt kiểm soát trong công việc nếu họ đã được mục tiêu mong muốn cam kết thực hiện các mục tiêu Công nhân muôn đảm nhận trách Công nhân bình thường có thể học nhiệm và trông chờ vào sự chỉ dẫn cách chấp nhận và thậm chí tìm kiếm bắt cứ lúc nào có thể trách nhiệm Hầu hết công nhân đều đặt sự an Khả năng ra các quyết định đúng đắn toàn lên trên tất cả các yếu tố liên được phận tán ở tắ cả mọi người chứ: quan đến công việc và rất có ít tham không nhất thiết chỉ có các nhà quản vọng trong công việc. trị Phân tích của Mc.Gregor có hàm ý gì về động lực làm việc? Câu trả lời phần lớn nằm trong khuôn khổ mà Maslow đã trình bày.
Thuyết X giả định rằng các nhu cầu cấp chỉ phối các cá nhân. Thuyết Y cho rằng nhu cầu cấp. cao có khả năng chỉ phối. Chính bản thân Me.
Gregor cũng cho rằng các giả định của thuyết Y có cơ sở hơn các giả định của thuyết X. Vì thế ông để xuất rằng việc tham gia vào quá trình ra quyết định, các công việc thể hiện rõ tỉnh thần trách nhiệm mang tính thử thách và quan hệ làm việc trong nhóm tổ có thé tối đa hoá động lực làm việc.Tuy nhiên, cin phải khẳng định rằng cả hai học thuyết này đều đúng vấn đề đặt ra là không phải nó đúng ở mọi lúc mọi nơi mà các nhà quản lý cần phải vận dụng một cách phù hợp với tổ chức Như vậy qua thuyết X và thuyết Y của Me.Gregor, động lực làm việc của đội ngũ công chức chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: tính dân chủ trong tổ chức, việc tham gia vào quá trình ra quyết định và tham gia vào các công việc nhóm có tác dụng rất lớn trong việc tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức. Thông thường việc mở rộng quyển hạn cho cán bộ, công chức 14 thông qua việc cho phép họ tham gia vào quá trình xác định mục tiêu, đường. hướng phát triển của cơ quan; tham gia vào quá trình ra quyết định và tham gia vào giải quyết các vấn đề của cơ quan; tham gia vào quá trình đôi mới tô chức.
'Việc mở rộng quyền tham gia vào công việc quản lý tạo ra những động lực to lớn đối với cán bộ, công chức thúc đây họ nỗ lực làm việc tăng hiệu quả. Học thuyết nhu cầu của Maslow (Abraham Maslow) Nói đến sự thỏa mãn nói chung người ta nói đến nhu cầu cấp bậc của Abraham Maslow (1943).