CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE MARKETING NGAN HANG 1. Tống quan về Marketing Ngân hang Marketing là hoat động có phạm vi rất rộng, do vậy cần một định nghĩa rộng. Bản chất marketinglà giao dịch, trao đổi nhằm mục đích thỏa mãn nhucầu và mong muốn của con người. Do đó, hoạt động marketing xuất hiện bat ki noi nao khi một đơn vị xã hội (cá nhân hay tô chức) cố gắng trao đổi cái gì đó có giá trị với một đơn vị xã hội khác.
Khái niệm marketing sau đây tríh từ Giáo trình marketing căn bản của Tiến sĩ Nguyễn Thượng Thái: “Marketing là các hoạt động được thiết kế để tạo ra và thúc đây bắt kì sự trao đổi nào nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người "'|Š] Chủ thể marketing có thể là một cá nhân, một doanh nghiệp, một đảng chính trị, một tổ chức phi lợi nhuận, chính phủ Đối tượng được marketing, được gọi là sản phẩm, có thể là một hàng hóa, một dịch vụ, một ý tưởng, một con người, một địa điểm hay một đất nước. Đối tượng tiếp cận marketing có thể là người mua, người sử dụng, người ảnh hưởng, người quyết định. Bắt kì khi nào người ta muốn thuyết phục ai đó làm một điều gì, thì tức là các chủ thể đó đã thực hiện hoạt động marketing. Đó có thé là chính phủ thuyết phục dân chúng thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, một Đảng chính trị thuyết phục cử trỉ bỏ phiếu cho ứng cử viên của mình vào ghế Tổng thống, một doanh nghiệp thuyết phục khách hàng mua sản phẩm, hay một người thuyết phục các đồng nghiệp, bạn bẻ thực hiện một ý tưởng của mình.
Trên đây là định nghĩa marketing trong hệ thống kinh tế, xã hội rộng lớn. Tuy nhiên, mục đích của tác giả trong bài khóa luận này là nhằm xây dựng chiến lược marketing cho một ngân hang cu thể nên cần có một khái niệm về marketing theo nghĩa hẹp hơn, khái niệm marketing cho một tô chức: * Marketing là một hệ thống tông thê các hoạt động của tô chức được thiết kế nhằm hoạch định, đánh giá, xúc tiến và phân phối các sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng để đáp ứng nhu câu của thị trưởng mục tiêu và đạt được các mục. tiêu của tổ chức * ( Theo Hiệp hội Marketing Mỹ - AMA) [3] Cu thé, tổ chức thực hiện marketing là doanh nghiệp thì chúng ta cũng. có thể tham khảo một định nghĩa marketing tiêu biểu sau đây: “Marketing là quá trình quản lý của doanh nghiệp nhằm phát hiện ra như cầu của khách hàng và đáp ứng như cầu đó một cách có hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh “.
Khái niệm Marketing của Philip Kotler: “Marketing là quá trình tạo dựng các giá trị từ khách hàng và mỗi quan hệ thân thiết với khách hàng nhằm mục đích thu về giá trị lợi ích cho doanh nghiệp, tổ chức từ những giá trị đã được tạo ra” [4] Khái niệm của Trường Đại học Tài chính - Marketing Tp HCM; “Marketing là sự kết hợp của nhiều hoạt động liên quan đến công việc kinh doanh nhằm điều phối sản phẩm hoặc dịch vụ tit nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp đến người tiêu dùng”. Khái niệm của viện nghiên cứu Marketing Anh: *Markeing là chức năng quản lý công ty mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành như cầu thực sự của một mặt hàng cụ thế, đến việc đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo cho công ty thu hút được lợi nhuận dự kí -BI Từ những khái niệm về marketing ta có thể thấy điều quan trọng đầu tiên mang tính quyết định thành hay bại trong kinh doanh của các doanh nghiệp là phải nghiên cứu nhu cầu, mong muốn cũng như hành vi mua hàng. của khách hàng, sau đó tiến hành sản xuất sản phẩm - dịch vụ phù hợp trước khi đem ra tiêu thụ trên thị trường thông qua các hoạt động trao đổi và giao dịch. Đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của các nhóm khách hàng khác.
nhau sẽ giúp doanh nghiệp tăng được khả năng cạnh tranh, có được chỗ đứng trên thị trường, đồng thời mang lại cho xã hội những sản phẩm, dịch vụ phong phú, đa dạng. Chính vì thế mà trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, có thể nói marketing là chìa khóa của sự thành công trong doanh nghiệp. Marketing Ngân hàng, a. Khai Có nhiều quan niệm về marketing ngân hàng, đứng ở góc độ và thời gian khác nhau đã xuất hiện các quan niệm khác nhau như: ~ Marketing ngân hàng là phương pháp quản trị tổng hợp dựa trên cơ sở nhận thức về môi trường kinh doanh, những hoạt động của ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự biến động của môi trường.
Trên cơ sở đó mà thực hiện các mục tiêu của ngân hàng. ~ Marketing ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của ngân hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận. ~ Marketing ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý của một ngân hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu của các nhóm khách hàng đã chọn và thỏa mãn nhu cầu của họ bằng hệ thống các chính sách biện pháp nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận như dự kiến. ~ Marketing ngân hàng là một chức năng của hoạt động quản trị nhằm hướng tới các sản phắm dịch vụ ngân hàng phục vụ những nhóm khách hàng mục tiêu của ngân hàng.
~ Marketing ngân hàng là tập hợp các hoạt động khác nhau của ngân hàng nhằm hướng tới những nguồn lực hiện có của ngân hàng vào việc phục 10 vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu của ngân hàng. Như vậy, do việc nghiên cứu, khai thác marketing trong lĩnh vực ngân hàng của mỗi tác giả ở những góc độ và thời gian khác nhau nên đã xuất hiện những quan niệm khác nhau, song đều đã có sự thống nhất về những vấn đề cơ bản của marketing ngân hàng. Đó là: Thứ nhất: Quá trình marketing ngân hàng thể hiện sự thống nhất cao độ giữa nhận thức và hành động của ngân hàng vẻ thị trường, nhu cầu khách hàng và năng lực của ngân hàng. Do vậy, ngân hàng cần phải định hướng hoạt đông của các bộ phận và toàn thể đội ngũ nhân viên vào việc tạo dựng duy trì và phát triển môi quan hệ với khách hàng - yếu tố quyết định sự sống còn của ngân hàng trên thị trường.
'Thứ hai: nhiệm vụ then chốt của marketing ngân hàng là xác định được nhu cầu, mong muốn của khách hàng và cách thức đáp ứng nó một cách hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh. “Thứ ba: Marketing ngân hàng không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và duy nhất, mà cho rằng lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng và là thước đo trình độ marketing của mỗi ngân hàng. Đặc điểm của Marketing ngân hàng. Marketing ngân hàng là một loại hình marketing chuyên sâu (chuyên nghành) được hình thành trên cơ sở vận dụng nội dung, phương châm, nguyên tắc, kỹ thuật, quan điểm của marketing hiện đại vào hoạt động ngân hàng.
Tuy nhiên, marketing ngân hàng có những đặc điểm khác biệt so vớimarketing thuộc các lĩnh vực khác.[6] Cụ thể là: * Marketing ngân hàng là loại hình marketing dịch vụ tài chính. Theo Philip Kotler: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đôi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến chuyên quyền sở hữu. 1 Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm khác biệt, đó là tính vô hình, tính không tách rời, không lưu trữ và khó xác định chất lượng. Những đặc lêm này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý dịch vụ, đặc biệt là tổ chức hoạt động marketing ngân hàng.
[4] Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng đã dẫn đến việc khách hàng không nhìn thấy, không thể nắm giữ được, đặc biệt là khó khăn trong. việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua. Do vậy, ngân hàng cần phải củng có niềm tin của khách hàng bằng cách nâng cao nghệ thuật sử dụng các kĩ thuật marketing như tăng. tính hữu hình của sản phẩm dịch vụ cung ứng thông qua việc đưa ra hình ảnh, biểu tượng khi quảng cáo, nội dung quảng cáo không chỉ mô tả dịch vụ cung.
ứng mà còn tạo cho khách hàng đặc biệt chú ý đến những lợi ích của sản phẩm dịch vụ đem lại. Đồng thời phải cung cấp những thông tin cần thiết cho khách hàng về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trình độ kĩ thuật công nghệ và đội ngũ nhân viên, tạo bầu không khí làm việc tốt với điều kiện làm việc thuận tiện, tăng tính trách nhiệm của nhân viên trong phục vụ khách hàng. Tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm của ngân hàng. Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng sản phẩm của ngân hàng thường là những quy trình hoặc kinh nghiệm và quá trình cung ứng dịch vụ diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ.
Chính điều này làm cho sản phẩm dịch vụ của ngân hàng không có khả năng lưu trữ. Do đó, ngân hàng cần phải có hệ thống, phương pháp phục vụ nhanh với nhiều quây, điểm giao dịch. Mỗi quẩy phải giải quyết đầy đủ, kịp thời nhu. cầu của khách hàng đồng thời phải luôn luôn được hoàn thiện đẻ phù hợp với sự đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng.
Ngoài ra, hoạt động cung ứng sản phẩm dich vụ ngân hàng còn có một đặc điểm liên quan chặt chẽ đến hoạt động marketing, đó là việc đảm bảo. 12 dòng thông tin hai chiều giữa ngân hàng và khách hàng. Dòng thông tin hai chiều đòi hỏi cả ngân hàng và khách hàng đều phải cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết, đầy đủ và chính xác nhất. Đây sẽ là căn cứ để quyết định các giao dịch và là cơ sở lòng tin để duy trì mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng * Marketing ngân hàng là loại hình marketing hướng nội.
Thực tế cho thấy so với marketing các lĩnh vực khác, marketing ngân hàng phức tạp hơn nhiều bởi tính đa dạng, nhạy cảm của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia đồng thời của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng. Nhân viên là yếu tố quan trong trong quá trình cung ứng, chuyển giao sản phẩm dịch vụ ngân hàng.