Chương 1 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì doanh nghiệp được hiểu như sau: “Doanh nghiép là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. [14] e Dịch vụ cho vay khách hàng doanh nghiệp “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” hời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày tiếp theo của ngày tổ chức tín dụng giải ngân vốn vay cho khách hàng cho đến thời điểm khách hàng phải trả hết ng gốc và lãi tiền vay theo thỏa thuận của tổ chức tín dụng và khách hàng. Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn cho vay là ngày lễ hoặc ngày nghỉ hàng tuần, thì chuyển sang ngày làm việc tiếp theo. Đối với thời hạn cho vay không đủ một ngày thì thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự về thời điểm bắt đầu thời hạn”.
[9] ~ Phương thức cho vay: Được quy định tại Điều 27 của Thông tư số 39/2016/TT/NHNN ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của Tô chức tín dụng, Chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài như sau: + Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tô chức tín dụng và khách hang thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. + Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng đề thực hiện một phương án, dự án vay vn. + Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. + Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chỉ trên tài khoản thanh toán: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng chỉ vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chỉ tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. + Cho vay quay vòng: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không quá 01 (một) tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động, kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng. - Loại cho vay: Được quy định tại Điều 10 của Thông tư số 39/2016/TT/NHNN ngày 30/12/2016 Quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng như sau: + Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm. + Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm.
+ Cho vay đài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm[10] 1. Marketing và Marketing dịch vụ Ngân hàng a. Téng quan về Marketing Ngày nay, hầu hết các trường phái nghiên cứu về Marketing đều thống nhất ở quan điểm Marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Nếu trước đây 10 người ta cho rằng Marketing là làm sao quảng cáo tốt để bán được hàng thì ngày nay điều mà các nhà làm Marketing quan tâm là làm thế nào để hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ nhu cầu của họ, từ đó phát triển những sản phẩm mang lại cho khách hàng những giá trị vượt trội với mức giá hợp lý, phân phối và cổ động một cách hiệu quả, thì việc bán những sản phẩm đó không có vấn đề gì khó khăn.
Do vậy, rõ ràng bán hàng và quảng cáo chỉ là một phần của phối thức Marketing rộng lớn, một tập hợp các công cụ phối hợp với nhau nhằm ảnh hưởng thị trường. Vậy, "Marketing là một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác”. Marketing dich vu Ngan hang ~ Khái niệm dịch vi “Dich vu là bắt kỳ biện pháp hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cắp cho bên kia, và chủ yếu là không thể sờ thấy được, và không dẫn đến một sự chiếm hữu một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”.
[17,14] ~ Dịch vụ có bốn đặc điểm cơ bản + Tính không sờ thấy được: Tính chất này xuất phát từ bản chất của dịch vụ. Dịch vụ không thể cảm nhận được trước khi mua. Do đó, quyết định của người mua dich vụ thường chủ quan hơn là khách quan. + Tính không thẻ tách rời nguồn gốc: Một sản phẩm hàng hóa được sản xuất, bán ra và cuối cùng là tiêu thụ theo một quy trình sản xuất nào đó.
Trong khi đó, việc sản xuất, hoàn tắt và tiêu thụ dịch vụ gần như diễn ra cùng lúc với nhau: dịch vụ không thê tách rời khỏi nguồn gốc của nó. + Tính không ổn định về chất lượng: Nói lên sự khác nhau, dù là tiềm ẩn, giữa hai dịch vụ nối tiếp nhau. Chất lượng dịch vụ thay đổi tùy theo người i cung ứng, cũng như thời gian và địa điểm cung ứng. Hơn thế nữa, đánh giá chất lượng dịch vụ lại chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố cảm tính.
+ Tính không lưu giữ được: Xuất phát từ tính không thể tách rời nguồn gốc của dịch vụ. Do đó, dịch vụ không thể “tồn kho” hay “lưu giữ” được.15] Từ cơ sở lý luận về định nghĩa và các đặc điềm của dịch vụ, với những. đặc điểm hoạt động của ngân hàng, với danh mục những “sản phẩm” cung ứng, chúng ta có thể kết luận marketing ngân hàng thuộc lĩnh vực marketing. - Khái niệm marketing ngân hàng: “là các tiến trình hoạch định, chức và thực hiện một cách có hệ thống các hoạt động tìm hiểu, phát hiện và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng mục tiêu, thông qua các chính sách, giải pháp phù hợp với các mục tiêu chiến lược kinh doanh chung của ngân hàng, nhằm cung ứng cho khách hàng những giá trị vượt trội hơn so với dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh” [16, tr 16], ~ Đặc điểm riêng biệt của marketing ngân hàng.
+ Do tính không sờ thấy được, dịch vụ ngân hàng không phải là đối tượng tồn trữ để phòng bị cho những lúc cầu tăng mạnh. Người sử dụng dịch vụ phải chờ đợi dé được cung cấp dịch vụ mong muốn, trong khi ngân hàng, có thể tự cảm nhận được các giới hạn dịch vụ của mình và do đó, phải thường xuyên điều chỉnh quan hệ cung — cầu. + Một hệ quả nữa của tính không thể sờ, thấy được đó là sự vắng mặt của bảo hộ. Dịch vụ ngân hàng không thẻ được cấp quyền sở hữu trí tuệ được.
Chúng thường xuyên được nháy lại, bắt chước. Sự khác nhau về dịch vụ ngân hàng không phải là nhân tố cạnh tranh lâu dài được. + Tính không thể sờ thấy được cũng sẽ gây trở ngại trong công tác truyền thông. Thực tế cho thấy, không giống như những ngành nghề khác, kể 12 cả những ngành cung ứng dịch vụ, quảng cáo cho hoạt động ngân hàng thực sự không hề đễ dàng.
Dịch vụ không thể được chứng minh qua các lời hứa, các quảng cáo mà qua các phương tiện vật chất và kết quả cụ thể. + Dịch vụ ngân hàng được cung ứng thông thường qua các giao dịch trực tiếp giữa nhân viên ngân hàng, khách hàng và cả sự có mặt của các khách hang khác. Những khác biệt về chính sách khách hàng có thể dẫn đến những. ngộ nhận, cảm nhận về “phân biệt đối xử”.
Bản thân sự cảm nhận về chất lượng dịch vụ lại phụ thuộc vào những tình huống tâm lý khác nhau giữa nhân viên ngân hàng và khách hàng. + Cuối cùng, tính không thể sờ, thấy được cũng đặt ra các ví Š giá phí dịch vụ ngân hàng. Nếu giá cả của sản phẩm hàng hóa có thể được tính toán phải chăng dưới cái nhìn của người tiêu dùng, từ cơ sở giá thành sản xuất của nó, thì giá cả của dịch vụ chỉ được diễn giải chủ yếu từ chỉ phí lao động của người cung cấp dịch vụ. Chẳng hạn, đối với các dịch vụ thanh toán ngân hàng, khách hàng thường không cảm nhận được thời gian mà nhân viên ngân hàng bỏ ra trong việc quản lý tài khoản khách hàng, cũng như các chỉ phí vận hành của hệ thống ngân hàng [16, tr 16- 17] e.
Các nguyên tắc vận dụng trong marketing ngân hàng ~ Nguyên tắc chọn lọc và tập trung. Khách hàng đại chúng là chiến lược khách hàng truyền thống của nghề ngân hàng. Thế nhưng, điều này cũng không tách rời những khả năng, trong. những điều kiện, tài nguyên nhất định, ngân hàng sẽ quan tâm đặc biệt hơn đối với mảng thị trường chuyên biệt, hẹp hơn, mà ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn, mang đến cho khách hàng nhiều giá trị hơn.
Đây chính là nẻn tảng trong. nguyên tắc chọn lọc, tập trung của marketing ngân hàng: chúng ta khó có thể làm vừa lòng tắt cả mọi người. Sẽ dễ hơn nếu chúng ta cố gắng làm vừa lòng. một số (ít) người nào đó.
Nguyên tắc này đòi hỏi ngân hàng phải có quá trình 13 nghiên cứu, sàng lọc, phân loại khách hàng và thị trường mục tiêu của mình. Có thể nói, từ thị trường đại chúng, cho đến thị trường “từng cá nhân” là một quá trình phát triển dài lâu của marketing ngân hàng. - Nguyên tắc giá trị khách hàng. Marketing ngân hàng phải đem đến cho khách hàng một giá trị nào đó.
Khách hàng đương nhiên sẽ quan tâm đến các công năng của dịch vụ (phần cứng). Một số khách hàng có thể quan tâm nhiều hơn đến phong cách giao. tiếp, các cử chỉ mềm mỏng của nhân viên ngân hàng, tức là các yếu tố của “phần mềm” tạo nên giá trị. ~ Nguyên tắc lợi thế khác biệt Marketing ngân hàng phải nhắm đến việc cung ứng cho khách hàng một giá trị khác biệt nào đó.
Đó là sự vượt trội của giá trị mà khách hàng cảm nhận được, trong so sánh với các dịch vụ cùng loại của các đối thủ cạnh tranh. của ngân hàng.