Chương 1. Cơ sở lý luận về marketing cho huy động vốn của các Ngân hang thương mại. Thực trạng marketing huy động vốn tại Ngân hàng TMCP. Phương Đông CN Quảng Ngãi.
Giải pháp marketing cho việc huy động vốn tai Ngan hang TMCP Phương Đông CN Quảng Ngãi. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về huy động vốn tại các Ngan hang TMCP nhưng với việc Ngân hàng TMCP Phương Đông hiện đã áp dụng dự án Quản trị rủi ro theo chuẩn Quốc tế Basel II mà một trong ba trụ cột chính là an toàn vốn thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về tình hình huy động vốn tại OCB. Vi vay, tác giả kế thừa kết quả của những công trình trên để nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Phương Đông CN. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING HUY DONG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
HUY DONG VON CUA NGAN HANG THƯƠNG MẠI 1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại & Vốn chủ sở hữu Để các NHTM có thể đủ điều kiện thành lập và hoạt động thì cần phải có nguồn VCSH. Đây là nguồn vốn theo Ngân hàng trong suốt và trình hình thành và hoạt động của Ngân hàng. Hiện nay các NHTM có hai nguồn chính để hình thành nên VCSH đó chính là vốn điều lệ và nguồn vốn đi vay (thông qua huy động vốn) của các NHTM.
Nguồn VCSH của các NHTM mặc dù chiếm khoảng 5% trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại có một vai trò lớn và quan trọng đối với các NHTM. Các NHTM có thể sử dụng nguồn vốn này vì nó là vốn của ngân hàng, có tính chất ổn định và thường xuyên và ngân hàng có thê sử dụng để đầu tư vào cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, tài sản của ngân hàng nhằm phục vụ cho HĐKD của ngân hàng Ngoài ra, nều VCSH lớn thì ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này phục vụ cho. hoạt động đầu tư góp vốn liên doanh cũng như là hoạt động cho vay. Căn cứ vào nguồn VCSH thì khách hàng sẽ có lòng tin với ngân hàng khi tài sản của ngân hàng được đảm bảo bằng nguồn VCSH.
Nhờ có nguồn vốn này mà ngân hàng có thể đảm. bảo khả năng thanh toán cho khách hàng trong trường hợp ngân hàng làm ăn không. Căn cứ vào nguồn VCSH thì nó sẽ quyết định lớn tới quy mô của ngân hàng cũng khi khối lượng HĐV tại ngân hàng. Do đó, với tốc độ tăng trưởng và quy mô về VCSH sẽ cho thấy tầm cỡ, năng.
lực phát triển của ngân hàng trên thị trường. Và khi thực hiện đánh giá, nhận định về một NHTM thì chỉ tiêu VCSH được quan tâm và đề cập đầu tiên. 'Vốn thuộc sở hữu của ngân hàng bao gồm: Vốn điều lệ: “Là mức vốn được hình thành khi ngân hàng được thành lập. 'Vốn điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định.
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập ngân hàng. Tùy thuộc vào loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ những nguồn vốn khác nhau” [5] Ngan hàng Quốc doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ ngân sách nhà nước cấp.[10] 'ồn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các cô đông. 15] Ngân hàng liên doanh: Vốn lệ được hình thành từ vốn góp của các bên liên doanh.[10] Ngân hàng nước ngoài: Vốn điều lệ được hình thành từ 100% vốn nước ngoài [5] Ngân hàng tư nhân: Vốn điều lệ được hình thành từ vốn của chủ Ngân hàng [10] Các quỹ như: Quỹ dự trữ nhằm bồ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng rủi ro đề dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nhằm bảo vệ vốn điều lệ, quỹ phúc lợi, khen thưởng và lợi nhuận chưa chia.[5] ® Vốn huy động dưới hình thức tiền gửi Nguồn vốn huy động dưới hình thức tiền gửi thường chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của các NHTM. Theo quan niệm của các nhà kinh tế học và các nhà làm Ngân hàng thì trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng ngoài nguồn vốn chủ sở hữu thì tắt cả các nguồn vốn còn lại được coi là nguồn vốn huy động.
Như vậy nguồn vốn huy động của các NHTM chiếm tỷ trọng lớn tới hơn 90% trong tổng nguồn vốn. Vì vậy các hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng tồn tại và phát triển được là nhờ nguồn vốn huy động này bao gồm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệ, phát hành giấy tờ có giá.[ 11] Nhận tiền gửi là "nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các DN, các tổ chức kinh tế, cá nhân. trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền gửi, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng để cho vay, chiết khấu, thanh toán.nhưng không.
có quyền sở hữu. Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút tiền sử dụng. Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của NHTM”.[11] ® Nguồn đi vay và nguồn khác “Tỷ trọng nguồn đi vay thấp hơn so với nguồn tiền gửi, không như nguồn huy động dưới hình thức tiền gửi, NHTM không cần thiết phải đi vay thường xuyên. Chỉ khi nào có nhu cầu thực sự cần thiết thì mới đi vay và hoàn toàn chủ động quyết định số tiền vay phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Việc đi vay này phụ thuộc rất lớn vào. ính sách tiền tệ từng thời kỳ”.{5] Nguồn khác này bao gồm: *Vốn tiếp nhận từ các tổ chức ¡ chính, các quỹ, vốn ngân sách Nhà nước cấp đề thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế đất nước”. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại $ Vốn huy động của Ngân hàng Thương mại 'Vốn huy động chính là tài sản bằng tiền mà các cá nhân, tổ chức mà Ngân hàng đang tạm thời giữ dùm, quản lý cũng như sử dụng tạm thời và có trách nhiệm. hoàn trả khi tới hạn tất toán khoản tiền gửi của khách hàng.
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chính của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng đối với các NHTM. Theo luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, có hiệu lực từ 01/01/2011, NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau đây: ~ Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. ~ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu đề huy động vốn trong nước và nước ngoài. - Vay vấn từ NHNN dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật NHNN Ưiệt Nam.
~ Vay vốn của tổ chức tín dung, tổ chức tín dụng trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.[14] & Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại ® Huy động vốn từ tiền gửi thanh toán “Tiền gửi thanh toán là hình thức khách hàng gửi tiền không có kỳ hạn và tiền gửi vào với mục đích sử dụng cho hoạt động thanh toán kinh doanh thương mại, người gửi có thể linh hoạt và chủ động sử dụng nguồn tiền này nhằm đáp ưng nhu cầu cần thanh toán, chỉ tiêu, chỉ trả cho hoạt động kinh doanh, tiêu dùng cũng như chỉ trả các khoản phí phát sinh một cách thuận lợi, nhanh chóng và an toàn.[4] Tiền gửi không kỳ hạn: “Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, người gửi tiền có thé rút tiền bắt cứ lúc nảo tủy theo nhu cầu của mình, do đó lãi suất của các loại hình tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác định. Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của khách hàng chưa có dự định rõ rằng trong tương lai. Đây là hình thức chủ yếu được các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mục đích giao dịch kinh doanh. Do vậy lượng tiền gửi không kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
Với đặc tính nguồn tiền này luôn biến động cho nên Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm nhất định của lượng tiền gửi không kỳ hạn nhận được nhất định tùy thuộc vào dự tính của Ngân hàng về sự ôn định tương đối của lượng tiền huy động được trong thời gian tới. Quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quản lý dự trữ ctia Ngan hing” [4] Huy động vốn từ tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là hình thức khách hàng cá nhân và tổ chức gửi tiền vào Ngân hàng có kỳ hạn nhất định và áp dụng một mức lãi suất nhất định và áp dụng khác nhau cho từng đối tượng khách hàng khác nhau [4] “Trong quá trình giao dịch khách hàng gửi tiền có kỳ hạn sẽ ký hợp đồng tiền gửi với đơn vị Ngân hàng kỳ hạn từ 1 tuần trở lên. Phương thức trả lãi suất được áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn có nhiều hình thức như: Trả trước, trả sau hoặc trả định kỳ với mức lãi suất được tính trên cơ sở 1 năm (360 ngày) hoặc theo tháng (30 ngày). Quyền lợi của các khách hàng gửi tiền có kỳ hạn tại Ngân hàng sẽ luôn được đảm bảo theo hình thức: Rút tiền từng lần hoặc rút toàn bộ tiền.
Trong đó, khi rút từng lần hoặc toàn bộ trước thời hạn thì mức lãi suất sẽ tính theo lãi suất không kỳ hạn. Trong trường hợp đáo hạn nhưng khách hàng chưa rút ién thì số lãi sẽ được nhập vào gốc và quay vòng sang kỳ hạn tiếp theo với điều khoản gửi tiền có kỳ hạn này tương tự như kỳ hạn trước.[4] $ HĐV từ tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền mà khách hàng cá nhân gửi vào Ngân hang và được xác nhận trên thẻ TK của Ngân hàng, khách hàng được hưởng lãi suất theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi của khách hàng và khoản tiền gửi tiết kiệm được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.[2] Đối tượng khách hàng của loại hình này với mục đính chính là sinh lời và đảm bảo an toàn nguồn tiền. Người gửi là những khách hàng cá nhân có nguồn thu nhập thường xuyên và mang tinh chất ôn định, thường là những người đã nghỉ hưu hay cán bộ công chức viên chức Nhà nước.