chương 1, tác giả đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về Marketing dịch vụ ngân hàng. + Trong chương 2, tác giả đã trình bày một cách tổng quát về ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chỉ nhánh Quảng Nam. Phân tích thực trạng hoạt động marketing tại chỉ nhánh. Qua đó, tác giả đánh giá thực trạng.
chung và nêu ra hạn chế, nguyên nhân khi thực hiện chính sách marketing cần khắc phục. + Trong chương 3, tác giả đã đề ra các giải pháp chính sách hoàn thiện marketing tại TMCP Ngoại thương Việt Nam. [8] Từ những tài liệu tham khảo có giá trị, công trình nghiên cứu cùng với thực tế công tác marketing tại Ngân hàng Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Bình là những cơ sở lý luận và thực tiễn giúp tác giả đi sâu và làm rõ thực trạng hoạt động marketing trong cho vay KHCN tại chỉ nhánh và đưa ra giải pháp mà ngân hàng cần thực hiện để hoàn thiện hoạt động. marketing trong cho vay KHCN tại Ngân hàng Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Bình.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING DICH VU 1.1, DICH VỤ VA VAI TRO MARKETING DICH VU 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một trong những lĩnh vực kinh tế lớn của một xã hội hiện đại. Nếu Xã hội càng phát triển, và trình độ chuyên môn hóa, phân công lao động. xã hội cảng cao thì lĩnh vực dịch vụ sẽ cảng phát triển để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.
Tuy nhiên, về khái niệm, đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau, chẳng hạn: *Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tô không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cắp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dich vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chat”. [I2] “Trong nghiên cứu này, dịch vụ được hiểu theo cách mà Philip Kotler đưa ra: "Sản phẩm dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yắu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hiữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật 13] 5.
Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ thuần túy có 5 đặc trưng cơ bản phân biệt rõ với hàng hóa là: Tính vô hình: Đặc điểm của hàng hoá là có kích thước, hình dáng, màu sắc, tính chất. Khách hàng có thể tự nhìn thấy để xem xét, đánh giá nó có. thích hợp với mình không. Nhưng trái lại, dịch vụ (DV) chỉ mang tính vô hình, không hữu hình, nó làm cho các giác quan của khách hàng không thể nhận biết trước khi khách hang mua DV.
Tính không chia tách được giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ: Nhà cung ứng dịch vụ và khách hàng sẽ cùng hiện diện khi việc giao dịch tiến hành. Nghĩa là khách hàng cũng là một trong những phần của sản phẩm. Tỉnh không ôn định chất lượng: Nó tùy thuộc và việc ai cung ứng, khi nào và ở đâu do đó chất lượng của DV không ồn định và biến động nhiều. Tính không thể lưu kho: DV không có thể lưu kho.
Ví dụ: Một đêm nghỉ khách sạn không thể bán được, thì nhà kinh doanh chịu lỗ đêm nghỉ đó. Tính không thể chuyển quyển sở hữu: Đối với hàng hóa khi đã mua thì khách hàng được chuyển quyền và trở thành chủ sở hữu món hàng đó nhưng đối với dịch vụ thì khách hàng sẽ chỉ được quyền sử dụng dịch vụ và hưởng. lợi ích từ DV đem lai trong một khoảng thời gian nhất định [2] 1. Marketing dịch vụ a.
Khéi niệm về marketing dịch vụ Marketing dịch vụ. chính là sự thích nghỉ của lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm: quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường phát triển bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác đông vào toàn bộ quá trình tÖ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ, nhu cầu của người tiêu dùng và hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội [2]. Vai trò Marketing địch vụ © Nghiên cứu về nhu cầu và các đặc điểm nhu cầu của thị trường mục tiêu, những yếu tố chỉ phối đến thị trường mục tiêu.
e Căn cứ vào việc khai thác và huy động tốt các nguồn lực của tổ chức có thỏa mãn nhu cầu có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh. e Thực hiện cân bằng động các mối quan hệ sản phẩm dịch vụ (loại hình, số lượng, chất lượng) với sự thay đôi nhu cầu của khách hàng. « Cân bằng ba lợi ích: lợi ích xã hội, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của bên cung ứng trong sự phát triển. Nội dung cốt lõi của marketing dịch vụ là dịch vụ (sự phục vụ).
Do đó, các nguyên lý của marketing dịch vụ đều có thể áp dụng vào các tổ chức và đơn vị có tham gia vào việc sản xuất, cung img DV. TIEN TRINH XAY DUNG MARKETING DICH VU 1. Phân tích môi trường marketing Môi trường marketing là tổng hợp tắt cả các yếu tố, những lực lượng bên trong và bên ngoài đơn vị và có ảnh hưởng nhất định (tích cực hoặc tiêu cực) đến hoạt động hoặc các quyết định marketing có liên quan đến việc tạo lập và duy trì mỗi quan hệ giữa công ty với khách hàng. Méi trường marketing vĩ mô .Môi trường kinh tế * Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Nếu nền kinh tế đang ở giai đoạn sa sút dẫn đến việc giảm chỉ phí của tiêu dùng và sẽ làm tăng cạnh tranh, gây ra sự cạnh tranh về giá, nhưng nếu nên kinh tế phát triển tăng trưởng tốt sẽ tạo cho doanh nghiệp có thêm cơ hội để mở rộng và đầu tư phát triển hoạt đông của doanh nghiệp.
* Lãi suất và xu hướngcủa lãi suất trong nền kinh tế: Xu thể của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư có ảnh hưởng từ lãi suất. Nếu lãi suất giảm sẽ khuyến khích nhu cầu của doanh nghiệp vay vốn đẻ đầu tư, phát triển mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng, nếu lãi suất có xu hướng tăng thì người dân sẽ tham gia gửi tiền nhiều vào. ngân hàng, từ đó việc chỉ tiêu sẽ giảm xuống, mặt khác việc tăng lãi suất sẽ làm cho doanh nghiệp hạn chế vay vốn để đầu tư hoạt động sản xuất và kinh 10 đoanh của mình. * Chính sách tiền tệ và tỷ giá hồi đoái : Quan hệ xuất nhập khẩu sẽ chịu sự tác động của yếu tố chính sách tiền và tỷ giá hối đoái nhưng đây cũng tạo ra cơ hội tốt cho các doanh nghiệp.
*Lạm phát: Lạm phát đều có tình hai mặt, bởi nếu thiếu đi lạm phát sẽ tác động đến nên kinh tế, làm cho trì trệ nhưng ngược lại nếu trường hợp lạm phát quá cao. thì sẽ làm cho sự đầu tư của doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro, sức mua của người dân cũng giảm. Chính vì vậy, việc duy trì tỷ lệ lạm phát cân đối sẽ không những kích thích được tăng trưởng của thị trường mà còn khuyến khích việc đầu tư vào nền kinh tế. *Hệ thống thuế và mức thuế Việc thay đổi mức phí, thu nhập của doanh nghiệp ảnh hưởng bởi sự thay đổi của hệ thống thuế, mức thuế và nó có thể đem đến nguy cơ hoặc có thể mang đến cơ hội cho doanh nghiệp.Môi trường công nghệ Với sự phát triển không ngừng của công nghệ mới sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mới xâm nhập thị trường nhưng lại tạo ra áp lực cho các doanh nghiệp đi trước do phải thay đổi công nghệ hiện đang áp dụng bởi đã lỗi thời bằng các công nghệ mới, hiện đại nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, điều đó sẽ làm đe đọa các sản phẩm cũ có tính truyền thống của ngành hiện hữu.
Đây cũng chính là một trong những yếu tố rất năng động không những chứa đựng nhiều cơ hội mà còn đe dọa đối với các doanh nghiệp.Môi trường văn hoá - xã hội Để nghiên cứu về các phân khúc mà doanh nghiệp phục vụ thì khi thực hiện phân tích môi trường về văn hóa và xã hội. Căn cứ nghiên cứu đó là: " ~ Để xác định được quy mô và sự đa dạng của nhu cầu sẽ căn cứ vào chỉ tiêu về dân số hay số người hiện nay ở trên thị trường. ~ Để đưa ra sản phẩm phù hợp với thị trường thì sẽ căn cứ vào khuynh hướng vận động dân số, như: độ tuổi trung bình, tỷ lệ tử, sinh. ~ Để biết được thói quen tiêu dùng của từng người với các nghề nghiệp khác nhau thì căn cứ vào Nghề nghiệp, tầng lớp xã hội.
~ Về nghiên cứu sự thỏa mãn nhu cầu theo thu nhập, khả năng tài chính thì sẽ căn cứ vào thu nhập và phân bó thu nhập của người tiêu dùng. ~ Nghiên cứu về văn hóa dân tộc và tôn giáo, những điều nên hay không. nên làm tại thị trường sẽ giúp doanh nghiệp không để xảy ra vi phạm vào các điều cấm kị của thị trường. Môi trường nhân khẩu học Có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh vượt qua biên giới quốc gia và cạnh tranh môi trường trong toàn cầu do đó việc Phân đoạn nhân khẩu học trong môi trường vĩ mô liên quan đến dân số, cấu trúc tuổi, phân bố địa lý, công đồng các dân tộc, và phân phối thu nhập cần phải được phân tích trên nên tảng toàn câu, bởi vì các tác động tiềm ân của nó mang tính toàn cầu.
Việc kết cầu dân số có thay đổi đó là một nhân tố của môi trường kinh tế vĩ mô có thể đưa đến các đe dọa lẫn cơ hội. Hiện nay, tại các nước phát triển thì kết cấu dân số già cao do tỷ lệ sinh thấp và với sự ứng dụng của y học hiện đại làm cho tuổi thọ của con người ngày cảng tăng điều này tác động đến các. doanh nghiệp về việc tìm lao động trẻ nhưng lại tạo ra cơ hội cho các dịch vụ như bảo hiểm, chăm sóc người giả. Ngược lại đối với các nước đang phát triển việc tìm lao động trẻ và nguồn lao động đối với các doanh nghiệp là cơ hội, tuy nhiên sự gia tăng dân số này quá nhanh chóng sẽ làm cho khả năng.
phát triển của các nước này không được bẻn vững.