CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE MARKETING 1. Khi lệm về marketing. Marketing Có nhiều định nghĩa về marketing, tuỳ theo từng quan điểm, góc độ nhìn nhận mà giữa các định nghĩa có sự khác nhau nhưng bản chất của chúng, thì không thay đôi, tựu chung lại ta có 3 khái niệm cần quan tâm sau: ~ Khái niệm Marketing của Philip Kotler: Marketing là hoạt động của con người hướng tới thoả mãn như cầu và tước muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đối [14], Định nghĩa này bao gồm cả quá trình trao đổi trong kinh doanh như là một bộ phận của marketing.
Hoạt động marketing diễn ra trong tất cả các lĩnh vực trao đổi nh m hướng tới thoả mãn nhu cầu với các hoạt động cụ thể trong. thực tiễn kinh doanh. ~ Khái niệm của Viện nghiên cứu Marketing Anh: AMarkeing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biển sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng đảm bảo cho công ty thư hút được lợi nhuận dự kiến [13]. Khái niệm này liên quan đến bản chất của marketing là tìm kiếm và thoả mãn nhu cầu, khái niệm nhắn mạnh đến việc đưa hàng hoá tới người tiêu dùng các hoạt động trong quá trình kinh doanh nhằm thu hút lợi nhuận cho.
công ty, tức là nó mang triết lý của marketing là phát hiện, thu hút, đáp ứng. nhu cầu một cách tốt nhất trên sơ sở thu được lợi nhuận mục tiêu. 10 ~ Khái niệm của Hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là quả trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng đễ tạo ra sự trao đối nhằm thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức [13] Khái niệm này mang tính chất thực tế khi áp dụng vào thực tiễn kinh doanh. Qua đây ta thấy nhiệm vụ của Marketing là cung cấp cho khách hàng.
những hàng hoá và dịch vụ mà họ cần. Các hoạt động của marketing như việc lập kế hoạch marketing, thực hiện chính sách phân phối và thực hiện các dịch vụ khách hàng,. nhằm mục đích đưa ra thị trường những sản phâm phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh thông qua các năng lực marketing của mình. Marketing dịch vụ Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của Marketing vào lĩnh vực dịch vụ.
Marketing dịch vụ có thể được định nghĩa như sau [20] Marketing dịch vụ là sự thích nghỉ lý thuyết hệ thống với những quy luật của thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tản cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội Marketing dịch vụ ngân hàng thuộc nhóm marketing dịch vụ. Như vậy, có thể hiểu: Marketing địch vụ ngân hàng là một hệ thống các biện pháp tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu đặt ra là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, về các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách i hàng lựa chọn bằng các chính sách, các biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tốiđa hoá lợi nhuận. Sự cần thiết của marketing trong lĩnh vực ngân hàng Trong ngân hàng, hoạt động marketing đã bắt đầu vào những năm 70.
Ở mỗi giai đoạn ngân hàng có vai trò khác nhau đối với nền kinh tế phù hợp với tiến trình lịch sử. Có rất nhiều lý do để các ngân hàng cần phát triển marketing trong giai đoạn hiện nay, đó là [13]: ~ Marketing là phương thức kết nỗi hoạt động của các NHTM với thị trường Định hướng thị trường đã trở thành điều kiện tiên quyết và mục tiêu trong hoạt động của các NHTM ngày nay. Có gắn với thị trường, hiểu được sự vận động của thị trường, nắm bắt được sự biến đổi liên tục của thị trường. và nhu cầu khách hàng trên thị trường, các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong thời đại 4.0 cũng như khả năng tham gia của bản thân ngân hàng.
mình thì mới có thể có những chính sách hợp lý nhằm phát huy tối đa nội lực giành lấy thị phần. Như vậy NHTM nào có độ gắn kết và độ nhạy với thị trường càng cao, khả năng thành công của ngân hàng đó càng lớn và ngược. lại ~ Marketing là công cụ hữu hiệu thu hút khách hàng Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng là rất dễ bắt chước, do vậy rất khó giữ. Mặt khác, so với các ngân hàng thương mại trên thế giới, nhìn chung các dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam hiện nay đều thuộc loại dịch vụ truyền thống và khá giống nhau giữa các NHTM.
Nhằm thu hút và giữ chân khách hàng, các NHTM đã chú ý hơn đến việc thiết kế và triển khai dịch vụ mới phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng, các ứng dụng trên Smartphon ngày càng được các ngân hàng khai thác mạnh. Khắc phục tình trạng này, không còn cách nào khác là các ngân hàng phải xây dựng một chiến lược 12 marketing hợp lý từ khi tìm hiểu nhu cầu khách hàng cho đến khi sản phẩm. dịch vụ đến tay khách hàng, thoả mãn tối đa nhu cầu của họ. ~ Marketing là công cụ nâng cao khả năng cạnh tranh Chúng ta biết rằng để đưa ra sản phẩm mới là việc làm khó khăn và luôn đòi hỏi nhiều thời gian công sức.
Tuy nhiên, ngân hàng lại không thể độc quyền về một sản phẩm mới (việc bắt chước các sản phẩm ngân hàng là rất dễ dàng lại không phạm pháp). Vì thế các NHTM phải có những chiến lược marketing mới nhằm tạo ra sự khác biệt hoá trong dịch vụ của mình nhằm thu hút nhiều khách hàng. Hơn nữa, ngay khi chiếm lĩnh được thị trường các NHTM cũng cần phải hành ngay các chiến lược bảo vệ cũng như chiến lược củng cố thị trường (giữ chân và chăm sóc khách hàng, cải tiến dịch vụ) nhằm đảm bảo đối thủ cạnh tranh không thể nhanh chóng sao chép mô phỏng, tiến tới chiếm lĩnh thị trường mới mở của ngân hàng mình. ~ Marketing là công cụ hạn chế tối đa rủi ro Voi đặc tính công việc của mình, marketing không những sẽ giúp ngân hàng biết được nhu cầu của khách hàng mà còn biết được những rủi ro tiềm ẩn trong mỗi khách hàng, về khả năng tài chính, tính trung thực, tình hình tài sản.
qua đó giúp các nhà quản trị có quyết định đúng đắn về việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng. Đặc điểm sản phẩm dịch vụ Các sản phẩm dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét nỗi bật riêng mà những hàng hóa hữu hình không có. Và sản phẩm dịch vụ có các đặc điểm nỗi bật đó là [15]: ~ Tỉnh vô hình Tính vô hình là đặc điểm đẻ phân biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm thường thực hiện theo một quy trình chứ không phải là các vật cụ thể có thể 13 quan sát, nắm giữ được.
Vì vậy, khách hàng thường khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn, sử dụng sản phẩm dịch vụ vì khi mua họ chưa trải nghiệm hết được. Họ chỉ có thể kiểm tra và xác định chất lượng sản phẩm dịch vụ trong quá trình mua và sau khi mua. Các yêu cầu này làm cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ càng trở nên khó khăn, thậm chí ngay. cả khách hàng đang sử dụng chúng.
Quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra. Sản phẩm dịch vụ khó được phân biệt, nhận biết ngay về lợi ích, công dụng của chúng, do đó sau khi khi sử dụng khách hàng mới đánh giá được chất lượng sản phẩm dịch vụ mình đã sử dụng. ~ Tỉnh không tách rời Đặc tính này hình thành từ việc dịch vụ đang được xử lý hoặc được trải nghiệm. Do quá trình cung cấp và quá trình tiêu dùng sản phẩm dịch vụ xảy ra đồng thời, đặc biệt là có sự tham gia của khách hàng vào quá trình cung.
ứng sản phẩm dịch vụ. Mặt khác, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ thường được tiễn hành theo những quy trình nhất định không thể chia cắt ra thành các loại thành phẩm khác. Đặc điểm này đòi hỏi bộ phận marketing. phải có sự kết hợp chặt chẽ với các bộ phận đầu mối trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ, đồng thời phải xác định nhu cầu, thị hiếu của khách hàng và cách thức lựa chọn sản phẩm dịch vụ.
~ Tính không đông nhất Nét đặc trưng của tính không đồng nhất trong quá trình sản xuất và tiêu dùng đã làm cho các dịch vụ trở nên không ôn định và thiếu thực tế về mặt chất lượng. Mức không ôn định bị ảnh hưởng bởi việc nhà cung cấp dịch vụ sử dụng nhiều nhân lực hoặc máy móc trong quá trình cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Nếu sự tham gia của các yếu tố con người nhiều hơn thì tiềm năng về chất lượng dịch vụ có thẻ lớn hơn. Sản phẩm dịch vụ được cấu thành 14 bởi nhiều yếu tố khác nhau như trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ và khách hàng.
~ Tỉnh mau hỏng Đặc trưng của tính mau hỏng thể hiện bản chất tức thời của sản phim xảy ra như là kết quả của việc sản xuất và tiêu dùng đồng thời. Vấn đề tính mau hỏng đối với những nhà cung cấp dịch vụ là họ không thể hình thành và duy trì hàng tồn kho. Do đó, những thay đôi về nhu cầu của thị trường dịch vụ không thể được đáp ứng giống như đối với thị trường hàng hoá khác. Do đó, nhiệm vụ quan trọng của nhân viên marketing trong các tô chức dịch vụ là tìm cách thức cải thiện và nâng cấp dịch vụ theo kịp với sự phát triển của thị trường và làm tương thích với năng lực cung cấp của nhà cung cắp 1.
Đặc điểm sản phẩm cho vay tiêu dùng tác động tới dụng marketing a. Đặc điễm tiêu dùng cá nhân Thi trường tiêu dùng cá nhân tuy nhỏ hơn về quy mô nhưng lại lớn hơn về số lượng so với thị trường khách hàng là doanh nghiệp.