CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING DICH VU DOI VOI HOAT DONG CUA NGAN HANG 1. MARKETING Ni HANG VA DICH VU NGAN HANG BAN LE TRONG NGAN HANG 1. Khi lệm marketing ngân hàng, Theo Phillip Kotler thi Marketing là "những hoạt động của con người hướng vào việc đáp ứng những nhu cầu và ước muốn của người tiêu dùng thông qua quá trình trao đổi” [9]. Theo Trần Minh Đạo, marketing là “quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đôi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tô chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông. qua trao đồi”. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, marketing là “ một quá trình lập kế hoạch và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của của hàng hoá, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động. trao đổi nhằm thoả mãn mục đích của các tổ chức và cá nhân” Như vậy, marketing là tập hợp các hoạt động như nghiên cứu thị trường, dự đoán sự phát triển của thị trường để định ra các chiến lược về sản xuất, tiêu thụ, dich vụ sau bán hàng cho sản phẩm theo yêu cầu của thị trường, để đảm bảo các hàng hóa, địch vụ được sản xuất ra được tiêu thụ hết trên thị trường.
Marketing ngân hàng là tổng hợp phương pháp quản trị ngân hàng và phục vụ khách hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng trong môi trường kinh doanh và từ đó đạt được mục tiêu lợi nhuận Từ các khái niệm trên, có thể rút ra kết luận rằng marketing ngân hàng là các tiến trình hoạch định, tổ chức và thực hiện một cách có hệ thống các hoạt động tìm hiểu, phát hiện và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng mục tiêu, thông qua các chính sách, giải pháp phủ hợp với các mục tiêu chiến lược. kinh doanh chung của ngân hàng, nhằm cung ứng cho khách hàng những giá trị vượt trội hơn so với dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Marketing ngân hàng cũng có thể hiểu là là hoạt động của ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, phủ hợp với sự biến động của môi trường nhằm đạt được mục tiêu mà ngân hàng đề ra. Đặc điểm của marketing ngân hàng.
Theo Nguyễn Thị Minh Hiền (2003), Marketing Ngân hàng, NXB “Thống kê, marketing ngân hàng có những đặc điểm sau: ~ Hệ thống marketing khác biệt mạnh. Trong ngân hàng, cần phải duy trì mỗi quan hệ được cá biệt hóa cao giữa một khách hàng với ngân hàng. 'Theo nguyên tắc định vị sản phẩm, việc định vị cần thay đổi cho phù hợp theo. nhu cầu của khách hàng trong phân đoạn thị trường, tiến hành bán cho những, cá nhân đã được định vị sẵn.
~ Vắng mặt của sự đồng nhất đặc thù: Người tiêu dùng khó có thể nhận biết được sự khác biệt giữa các tên gọi của các dịch vụ nên thường xuyên quan tâm đến việc tư vấn dịch vụ cụ thể dựa trên nhu cầu cá nhân. ~ Phân tán về địa lý: Hoạt động marketign ngân hàng bao trùm trên phạm vi quốc tế, quốc gia và khu vực nhất định. ~ Sự lựa chọn giữa tăng trưởng và rủi lát cứ dịch vụ tài chính nào cũng có rủi ro, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng và ngân hàng phải chấp nhận rủi ro đó. Ngân hàng phải cân nhắc kỹ giữa rủi ro, lợi nhuận thu được, chỉ phí cho một công cụ marketing nếu công cụ marketing không mang lại hiệu quả.
Do đó, ngân hàng phải cân nhắc kỹ trước khi lựa chọn. 10 - Sự biến động của cầu: Cầu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của cả nền kinh tế nói chung. ~ Trách nhiệm tài chính tín dụng: mang lại cho khách hàng mức lãi suất có thể chấp nhận được so với mức lãi suất chung. ~ Cường độ của nhân công trong quy trình: Ngân hàng có thể lựa chọn đầu tư vào con người nhiều hơn hay máy móc nhiều hơn khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng miễn sao sự lựa chọn nay thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng và chỉ phí cho ngân hàng 1.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á - AIT, dich vụ ngân hàng bán lẻ được hiểu là cung ứng sản phẩm, dich vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ thông qua mạng lưới chỉ nhánh, khách hàng có thể tiến cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương. tiên điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Theo t6 chức Thương mại thế giới WTO, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là “loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, nơi mà các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chỉ nhánh/phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thé chấp, vay vốn, dich vu thé tín dung, thé ghi nợ, và các dịch vụ khác đi kèm. Mục tiêu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là khách hàng cá nhân nên dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện, thường xuyên và tập trung vào dịch vụ tiền gửi và tài khoản, vay vốn, mở thẻ tín dụng,.
Nhu vậy, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ do ngân hàng cung cấp cho từng cá nhân riêng lẻ thông qua mạng lưới chỉ nhánh hoặc khách hàng có thể đến trực tiếp tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông. i Dịch vụ ngân hàng bán lẻ gồm một số nội dung như dịch vụ huy động vốn; dịch vụ thanh toán; dịch vụ thẻ; dịch vụ tín dụng; dịch vụ ngân hàng điện tử; dịch vụ thu hộ/chỉ hộ, chuyển tiền du học, giữ hộ tài sản quý hiếm, cho thuê két sắt 1. TIỀN TRÌNH XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH MARKETING NGÂN HÀNG 1. Xác định nhiệm vụ, mục tiêu, mục tiêu marketing của ngân hàng Mỗi ngân hàng tồn tại đều có một sứ mệnh nhất định nên sẽ xác định xác nhiệm vụ để thực hiện sứ mệnh của mình.
Tuy nhiên, trong môi trường thay đổi như hiện nay, để thực hiện sứ mệnh một cách hiệu quả nhất, các ngân hàng phải cụ thể hóa các nhiệm vụ của mình thành các mục tiêu. Mục tiêu marketing sẽ được xác định dựa trên nhiệm vụ, mục tiêu chung của ngân hàng. Các mục tiêu marketing phải dam bao kha thi, phù hợp với chiến lược, mục tiêu chung của ngân hàng. Phân tích môi trường marketing Môi trường marketing bao gồm các nhân tô ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Phân tích môi trường này sẽ giúp cho ngân hàng. biết được các cơ hội, thách thức, đe dọa để đưa ra được những chiến lược marketing hiệu quả hơn. Môi trường marketing gồm: + Môi trường vĩ mô: gồm các tác nhân, lực lượng bên ngoài có tính chất xã hội rông lớn, có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Môi trường vĩ mô gồm môi trường nhân khẩu học, môi trường kinh tế, môi trường công nghệ, môi trường văn hóa - xã hội, môi trường chính trị - pháp luật, môi trường toàn cầu [2].
~ Môi trường nhân khẩu học gồm dân số, cấu trúc tuổi, phân bé địa lý, phân phối thu nhập, đặc biệt là hai nhân tố địa lý và thu nhập bởi hai yếu tố 12 này quyết định nhiều đến hành vi tiêu dùng của khách hàng. Khi phân tích môi trường này, ngân hàng sẽ có kế hoạch bố trí địa điểm phục vụ khách hàng phù hợp hơn và giúp ngân hàng xác định được tập khách hàng tiềm năng của mình. ~ Môi trường kinh tế: gồm một số yếu tố quan trọng đó là mức tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hồi đoái, tỷ lệ lạm phát. Bốn yếu tố này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng với ngành ngân hàng.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ mức thu nhập của người dân, sự tăng trưởng của các tổ chức. kinh doanh, doanh nghiệp, quy mô đầu tư trong nền kinh tế. Nhờ đó, ngân hàng có thể dự đoán được nhu cầu vay của các tổ chức kinh doanh và lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư. Các yếu tổ về lãi suất, tỷ giá hối đoái hay lạm phát sẽ giúp ngân hàng đưa ra các quyết định về mức lãi suất, lãi suất huy đông vốn của ngân hàng mình cho phù hợp, ~ Môi trường công nghệ: Ngân hàng là một trong những ngành liên quan chặt chẽ đến công nghệ.
Sự ra đời của máy ATM, POS, các ứng dụng trên điện thoại, mạng Internet để quản lý tài khoản thẻ của khách hàng là các bước tiến lớn, hệ quả tích cực của sự phát triển công nghệ thông tin. Nghiên cứu, phân tích môi trường này sẽ giúp ngân hàng có nắm bắt được xu hướng, công nghệ, kịp thời thay đổi để thích nghỉ với các công nghệ đó vào hoạt động kinh doanh nếu không muốn bị lạc hậu, tụt lùi ~ Môi trường văn hóa — xã hội: đặc biệt là các yếu tố liên quan đến thái độ xã hội và các giá trị văn hóa. Ngân hàng cần tập trung nhiều vào tập quán tiêu dùng và tiết kiệm của người dân. Hiện nay, người dân đang dần chuyển sang tiêu dùng tiền thẻ, có nhiều nhu cầu mở rộng hoạt động, kinh doanh nên ngân hàng cần linh hoạt chú trọng đến đơn giản hóa quy trình, thủ tục vay vốn để giúp mở rộng đối tượng vay vồn, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng.
13 ~ Môi trường chính trị - pháp luật: Đây là cách thức mà ngân hàng có thể ảnh hưởng đến Chính phủ và cách thức Chính phủ ảnh hưởng đến ngân hàng. Ngành ngân hàng chịu nhiều tác động từ Chính phủ và từ Ngân hàng, Nhà nước. Do đó, ngân hàng cần chú ý, nghiên cứu kỹ các vấn đề về Luật trong ngành mình hoạt động, từ đó kịp thời điều chỉnh, thích nghỉ cho phù hop. ~ Môi trường toàn cầu: gồm các thị trường toàn cầu có liên quan, các thị trường hiện tại dang thay đồi, các sự kiện chính trị quốc tế quan trọng, các đặc tính thể , văn hóa cơ bản trên các thị trường toàn cầu.
+ Môi trường vi mô gồm các các lực lượng bên ngoài có tác động qua lại, trực tiếp đến ngân hàng và có khả năng phục vụ khách hàng của ngân hàng. Môi trường vi mô gồm ngân hàng, đối thủ cạnh tranh, khách hàng [2], ~ Ngân hàng là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến chiến lược marketing của ngân hàng. Ngân hàng gồm các bộ phận như ban lãnh đạo, bộ phận tài chính, tín dụng, tiếp xúc khách hàng, thu hồi nợ,.