phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cầu thành 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận về marketing dịch vụ và dịch vụ truyền hình OTT. Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing cho dịch vụ MyTV trên smartphone của VNPT Kon Tum, giai đoạn 2018 -2020. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing dịch vụ MyTV trên smartphone của VNPT Kon Tum trong giai đoạn 2021-2025. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Giải pháp marketing cho dịch vụ MyTV trên Smartphone tại VNPT Kon Tum”, tác giả đã thu thập, tìm hiểu và tham khảo một số sách, bài báo khoa học, luận văn thạc sỹ đã được công bố có nội dung tương tự làm nễn tảng cho quá trình hoàn thành luận văn như sau: 6.
Sách về marketing - “Quan tri Marketing - của Philip Kotler - Kevin Keller ( Sách do Nhà Xuất Bản Lao Động Xã Hội xuất bản tháng 12 năm 2013). Tác phẩm, trình bày những khuôn mẫu thường gặp trong quản trị Marketing, vận dụng những tư duy marketing vào sản phẩm, dịch vụ, thị trường. Phản ánh những quyết định chủ yếu mà những người quản trị marketing và ban lãnh đạo tối cao phải thông qua nhằm phối hợp hài hòa những mục tiêu, sở trường cốt lõi và các nguồn lực của tô chức với những nhu cầu và cơ hội thị trường. mà các nhà quản trị marketing cần phải am hiểu nhằm nêu lên những vấn đề chính đặt ra về marketing chiến lược, chiến thuật và hành chính”.
[9] - “Quan tri Marketing định hướng giá trị - Tác giả PGS.TS Lê Thế Giới, Ts. Nguyễn Xuân Lãn, và các cộng sự, Nhà xuất bản Lao động xã Hội xuất bản tháng 01 năm 2014. Cuốn sách làm rõ, quản trị Marketing vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật vừa là một ngành nghề. Giáo trình đã cũng cố những kiến thức cơ bản về Marketing, khái quát từ cơ sở xã hội đến cách phân tích, dự báo, xác định thị trường mục tiêu, đề ra các chiến lược, chiến thuật Marketing cho tổ chức.
Tài liệu này giúp tác giả hiểu rõ hơn vai trò và những liên kết thực sự giữa Marketing và thành công của tô chức”. [2] - "Giáo trình - Quản trị Marketing dịch vụ” của PGS.TS Lưu Văn Nghiêm, Nxb Đại học Kinh tế Quốc Dân, năm 1997, và Giáo trình“ Marketing Dịch vụ” của PGS.TS Lưu Văn Nghiêm, Nxb Đại học Kinh tế Quốc Dân, năm 2008. Các cuốn này giúp tác giả mở rộng hơn kiến thức về cách nghĩ và cách làm của các nhà quản trị Marketing trong lĩnh vực dịch vụ, vai trò của marketing dịch vụ và từ đó hình thành tiến trình xây dựng chính sách marketing cho dịch vụ”. Các bài báo khoa học có liên quan đến marketing dịch vụ MyTE trên smartphone: - Bài Nhiều hoạt động giải trí tại gia cùng truyền hình MyTV.
Tác giả Quỳnh Ngọc viết trên báo Sơn La online năm 2021. Tham khảo luận văn: ~ Luận văn cao học “Chính sách marketing cho dịch vụ MyTV tại công ty phát triển dịch vụ truyền hình - thuộc VNPT”. Tác giả Trịnh Quỳnh - 2017 ~ Luận văn cao học * Giải pháp marketing cho dịch vụ di động tại VNPT Kon Tum”. Tác giả Trương Nhật Linh - 2019.
~ Luận văn cao học “Giải pháp marketing cho dịch vụ di động tại Mobiphone Gia Lai Nguyễn Quang Huan - 2019. Các tác giả đã áp dụng tiến trình marketing theo mô hình 7P để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp cho dịch vụ di động tại VNPT Kon Tum, trong đó tập trung vào chính sách sản phẩm, chính sách giá cả. Luận văn cũng cho thay khả năng áp dụng trong thực tiễn kinh doanh của VNPT với chức năng và quyền hạn ra quyết định chính sách marketing đối với dịch vụ đi động tại địa bàn Tỉnh. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING DICH VU VA DICH VU TRUYEN HINH OTT 1.
KHAI NIEM VA DAC DIEM CUA DICH VU 1. Khái niệm dịch vụ a. Khái niệm: Ngành dịch vụ được xem như là bộ phận đem lại giá trị vô hình cho nền kinh tế. Các nhà nghién ctu Marketing hién dai Kotler va Armstrong định nghĩa dịch vụ như sau: ich vu là bắt kỳ hành động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả” [9] Thực tế, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ, có lẽ do tính vô hình khó nắm bắt cũng như sự đa dạng của nó, đã khiến cho việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng trở nên khó khăn hơn.
Dịch vụ là mọi quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Đặc điểm của dịch vụ: “Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hóa hiện hữu không có. Nhưng đặc điểm cơ bản của dịch vụ là: Tính vô hình: Hàng hoá có hình dáng, kích thước, màu sị Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không.
Ngược lại, dịch vụ (DV) mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua DV. Tỉnh không chia tách được giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ: Nhà cung ứng dịch vụ và khách hàng phải cùng hiện diện khi việc giao dịch tiến hành. Nghĩa là khách hàng cũng là một phần của sản phẩm. Tinh không ôn định vẻ chất lượng: Chất lượng dịch vụ biến động.
vì nó tùy thuộc và việc ai cung ứng, khi nào và ở đâu. Tính không thể lưu kho: Dịch vụ không thể lưu kho được. Một đêm nghỉ khách sạn không bán được, thì nhà kinh doanh chịu lỗ đêm nghỉ đó. Tính không thé chuyển quyền sở hữu: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua.
Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi”. TONG QUAN VE MARKETING DICH VU 1. Khái niệm về marketing Theo Philip Kotler “Marketing là một tiến trình quản trị và xã hội qua đó cá nhân cũng như đoàn thể đạt được những gì họ cần và mong muốn, thông qua việc tạo ra và trao đổi các sản phẩm cũng như giá trị với người khác, đoàn thể khác” [7]. Khái niệm marketing dịch vụ “Marketing dịch vụ là sự thích nghỉ lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm: quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường phát triển bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động.
vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ, nhu cầu của người tiêu dùng và hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội” [13]. *Theo tác giả Lưu Văn Nghiêm “Marketing dịch vụ là quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường, mục tiêu đã lựa chọn và xác định bằng quá trình phân phối các nguồn lực của các tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Marketing được xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ và nhu cầu của người tiêu thụ cùng với những hoạt động của đối thủ cạnh tranh” [6].
Chính sách marketing trong doanh nghiệp a. Khái niệm Chính sách marketing là những nguyên tắc chỉ đạo, thủ tục, quy tắc, phương pháp được thiết lập gắn với hoạt động marketing nhằm hỗ trợ và thúc day việc thực hiện các mục tiêu đã xác định. Nội dung của chính sách marketing “Chuyén gia marketing E. Jerome McCarthy da tao ra Marketing 4P vào những năm 1960.
Mô hình Marketing-mix 4P ciia McCarthy 1a mé hinh tổn tại lâu và phổ biến nhất, gdm P1: San phẩm (product), P2: Gia ca (price), P3: Phân phối (place), P4: xúc tiến (Promotion). Thuật ngữ này sau đó được mở rộng thành marketing 7P và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, gồm: PI: Sản phẩm (product), P2: Giá cả (price), P3: Phân phối (place), P4: xúc tiến (Promotion), P5: Con người (People), P6: Quy trình (Process), P7: Bằng chứng vật chat (Physical evidence)”. Sự tác động qua lại giữa các chính sách marketing Các chính sách marketing cụ thể thường được xây dựng trên cơ sở các quyết định marketing. Các yếu tố trong chính sách marketing là các quyết định tác nghiệp để cụ thể hóa cho việc định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu đã chọn nhằm thực hiện mục tiêu marketing.
Các yếu tố trong chính sách Marketing có tác động tương hỗ, quyết định về yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các yếu tố còn lại. 10 TÀI CHÍNH- KẾ TOÁN. SÂN XUẤT NGHIÊN COU ~ PHAT TRIEN Hình 1. Sự tác động giữa chức năng marketing và các chức năng khác 143.
TIẾN TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP. Phân tích môi trường marketing. “Môi trường Marketing là tổng hợp tắt cả các yếu tố, các lực lượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp. Các yếu tố, các lực lượng tạo nên môi trường Marketing không chỉ ở trong các doanh nghiệp, các công ty mà còn trong các đối thủ cạnh tranh của nó và trong phần còn lại của ngành sản phẩm.
Việc phân tích môi trường marketing sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện các cơ hội và đe dọa đối với hoạt động marketing, vì vậy doanh nghiệp cần phải vận dụng các khả năng nghiên cứu của mình đề dự đoán những thay đồi của môi trường. Môi trường marketing được phân tích theo hai nhóm yếu tố: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô”. Môi trường vĩ mô Môi trường dân số học Môi trường nhân khẩu học là khoa học nghiên cứu về dân số trên các phương diện như tỷ lệ tăng trưởng, cơ cấu lứa tuổi, giáo dục, phân bố dân cư, tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết, mức thu nhập, cơ cấu lực lượng lao động, và các đặc. ll tính kinh tế - xã hội khác.
Môi trường dân số là mối quan tâm chính yếu đối với các nhà làm Marketing, vì dân số là lực lượng chính làm ra thị trường.