Chương 1: Co sé lý luận về marketing trong cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — Chỉ nhánh Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp marketing trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — Chỉ nhánh Đà Nẵng 6. Tổng quan tài liệu Cho vay tiêu dùng là một trong những dịch vụ mà các NH hiện nay đang có sự quan tâm đặc biệt nhằm mở rộng thị phần khách hàng cá nhân đang đầy tiềm năng chưa khai thác hết. Vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp marketing hiệu quả nhằm phát triển dịch vụ cho vay tiêu dùng là một công việc rất cần thiết.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Giải pháp marketing trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chỉ nhánh Đà Nẵng”, tác giả đã tham khảo một số luận văn thạc sĩ có nội dung tương tự đã được công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn. Luận văn thạc sĩ đề tài “Hoàn thiện hoạt độngMarketing tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Ưiệt Nam” của tác giả Nguyễn Vũ Ngọc Trinh do TS Trịnh Quốc Trung hướng dẫn, thực hiện tại TP HCM năm 2011. Đối với đề tài này, tác giả đã nêu ra những lý luận chung về hoạt động marketing ngân hàng và ý nghĩa của việc hoàn thiện hoạt động marketing ngân hàng. Trên cơ sở lý luận đó tác giả sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, so sánh dựa trên số liệu của báo cáo thường niên của VCB từ 2008-2010, báo cáo của Ngan hàng Nhà nước, báo cáo thường niên của các đối thủ cạnh tranh như ACB, Vietinbank .năm 2010 để phân tích thực trạng và đồng thời căn cứ thêm kết quả điều tra ý kiến khách hàng đề đưa ra kết luận cũng như đề xuất các vấn đề cần thay đổi để hoàn thiện hoạt đông marketing tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ đề tài “Chiến lược marketing tại Ngân hàng TMCP Sai Gòn Hà Nội ~ Chỉ nhánh Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc do TS Nguyễn Thanh Liêm hướng dẫn thực hiện tại Đà Nẵng năm 2013. Đối với đề tai này, tác giả đã nêu ra những lý luận chung về chiến lược marketing. ngân hàng và sự cần thiết phải đưa ra chiến lược marketing ngân hàng. Dựa vào cơ sở lý luận, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp và so sánh để đánh giá thực trạng chiến lược marketing tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội - CN Đà nẵng từ đó có cái nhìn tổng quát về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những.
điểm yếu và tận dụng những điểm mạnh cũng như những cơ hội để hoàn thiện chiến lược marketing tại Ngân hàng này. Luận văn thạc sĩ đề tài “oàn thiện chính sách marketing tại Ngân hàng TMCP Đầu Từ và Phát triển Việt Nam — Chỉ nhánh Bình Định "của tác giả Nguyễn Tấn Dũng do PGS.TS Nguyễn Trường Sơn hướng dẫn thực hiện tại Đà Nẵng năm 2013. Đối với đề tài này, tác giả đã nêu ra những lý luận chung. như về chính sách marketing ngân hàng và sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách marketing ngân hàng.
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích hệ thống, phương pháp thống kê, điều tra và phương pháp. suy luận để đưa ra nhận định về thực trạng chính sách marketing đang thực hiện tại ngân hàng. Sau khi phân tích những điểm đạt được và không đạt được trong hoạt động marketing tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam — Chi nhánh Bình Định thông qua việc phân tích các số liệu báo cáo thống kê, báo. cáo các hoạt động của các tô chức kinh tế liên quan, tác giả tham khảo thêm một số các bài viết chuyên đề trên các tạp chí và các tài liện cần thiết đẻ từ đó có cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing tại Ngân hang TMCP Dau Tu va Phát triển Việt Nam — Chỉ nhánh Bình Định Tóm lại, các đề tài nghiên cứu trên đều phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp cũng như chiến lược marketing chung cho toàn bộ các hoạt động kinh doanh ngân hàng chứ không đi sâu về một mảng riêng biệt như dịch vụ thẻ, địch vụ huy động vốn hay dịch vụ cho vay tiêu dùng.
Tuy nhiên dựa vào những tài liệu tham khảo trên, tác giả đã rút ra được những định hướng và phương pháp nghiên cứu phù hợp. Đồng thời, kết hợp với thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ cho vay tiêu dùng tại VCB DN hiện nay, tác giả mong muốn phân tích sâu hơn, rõ ràng hơn về thực trạng hoạt động marketing đối với dịch vụ cho vay tiêu dùng mà VCB ĐNđã thực hiện được cũng như những hạn chế còn tồn tại, từ đó đưa ra những giải pháp marketing nhằm hoàn thiện dịch vụ cho vay tiêu dùng tại VCB ĐN trong bối cảnh hiện nay. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING TRONG CHO VAY TIEU DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. DICH VY CHO VAY TIEU DUNG CUA NGAN HANG TH! MAI 1.
Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng a. Khai nigm Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chỉ tiêu của người tiêu dùng. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghỉ sinh hoạt, học tập, du lịch, y khi họ có khả năng về tài chính để hưởng thụ b. Đặc điểm Quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn: Các khách hàng khi tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường có nhu cầu vốn không cao vì nhu cầu của người tiêu dùng đối với các loại hàng hóa xa xỉ là không cao hoặc đã có tích lũy từ trước đối với những tài sản có giá trị lớn.
Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên ngân hàng cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay căn cứ vào khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng. Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu dùng là khá lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. Các khoản vay tiêu dùng có lãi suất cao và là một trong những khoản mục có khả năng sinh lời cao nhất: Vì quy mô của các khoản vay tiêu dùng thường nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chỉ phí để cho vay cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác.
Từ trước đến nay, cho vay tiêu dùng vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Không như hầu hết các khoản cho vay khác hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, cho vay tiêu dùng có thể để bù đắp chỉ phí huy động vốn của ngân hàng và các khoản chỉ phí khác. Các khoản vay tiêu dùng thường được định giá rất cao đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tôn thất tín dụng phải tăng lên đáng kẻ thì hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao: Vì đối tượng của hoạt động cho vay tiêu dùng là các cá nhân nên hoạt động này không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan của người tiêu dùng mà còn chịu tác động từ các yếu tố khách quan từ bên ngoài.
Ta có thể thấy một số nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này là: ~_ Thông tin tài chính của cá nhân thường khó đầy đủ và rõ ràng như thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo cáo tài chính), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng. Các cá nhân có thé tìm cách trốn tránh không trả các khoản vay cho dù có khả năng thanh toán. ~ _ Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ôn định tại thời điểm hiện tại của người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mắt việc làm hay gặp các biến có bắt ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ.
Đây là rủi ro khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế được thông qua nâng cao chất lượng thâm định dự án ~_ Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế: Khi nền kinh tế phát triển, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay ngân hàng nhiều hơn, và khi nền kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng. Các khoản cho vay tiêu dùng có chỉ phí khá lớn: Do số lượng món vay tiêu dùng nhiều, khách hàng đông và đa dạng nhưng số lượng mỗi khoản vay lại nhỏ, ngân hàng phải huy động nhiều nhân lực cho hoạt động cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thâm định khách hàng, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với khách hàng sau khi cho vay. Mặt khác, ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản cho vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối với khách hàng cá nhân, thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch như ở các công ty lớn. Tắt cả những điều này kiến chỉ phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay tiêu dùng cao hơn so với các loại hình cho vay khác.
Lợi ích của cho vay tiêu dùng Đối với người tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng có tác dụng đặc biệt với những người có thu nhập thấp và trung bình, họ sẽ được hưởng các dịch vụ, tiện ích trước khi có đủ khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hoá thi yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi. hay trong trường hợp chỉ tiêu cấp bách như nhu câu về y tế. Có thể nói rằng bất cứ một người nào đều mong muốn được thoả mãn những nhu cầu của riêng mình, bắt đầu từ những hàng hoá thiết yếu rồi đến những hàng hoá xa xỉ hơn.