Chương 1: Téng quan vé Quản trị marketing; chương 2: tạo dựng giá trị, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng; chương 5: hành vi khách hàng; chương 10: chính sách giá; chương 11: quản trị chuỗi cung ứng và phân phối, chương 12: truyền thông. Các báo cáo tài chính về hoạt động của VNPT ĐắkLắk, hoạt động kinh doanh và marketing của dịch vụ truyền hình tương tác MyTV trong những năm gần đây, một số bài báo nhận định vé chat lượng của dịch vụ truyền hình MyTV so với những dịch vụ khác trên các diễn đàn cũng như trên các trang báo mạng, website của VNPT: http:/vnptvn, website của VNPT ĐắkLấk: http://daklaktelecom. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE DICH VU VA MARKETING DICH VU 1. Khái niệm Dịch vụ được Kotler và Amstrong (1991) định nghĩa như sau: “Dịch vụ là những hoạt động hoặc lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Dich vụ có thể gắn liên hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất nhất định ” Dịch vụ có thể nằm trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi sản phẩm vật chất. Người ta phân biệt hai thái cực — một đầu chỉ hàng hoá hiện hữu hoàn toàn và đầu kia chỉ dịch vụ hoàn toàn. Một sản phẩm có thể chứa nhiều phần dịch vụ hơn hay ít hơn tuỳ thuộc vào bản chất của hoạt động sản xuất kinh doanh ra nó. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ ngày càng mờ dẫn bởi vì các công ty ngày càng đưa ra nhiều những hỗn hợp sản phẩm và dịch vụ để cạnh tranh trên thị trường.
Võ 6 Mr ling Bibi Ho hiểm tuyển — không Tư vấn Bưu điện Gito d 'Vật chất hoàn toàn Muốề Quinso Ow Nhàhàng đồhệp maysn Nhào Xemáy Quinn Hình 1. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ 1. Đặc điểm của dịch vụ Khác với hàng hoá, dịch vụ có bồn đặc điểm riêng và quan trọng. Các đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các sản phẩm dịch vụ hoặc các hoạt động dịch vụ một cách hiệu quả nhất.
Tĩnh vô hình: Các dịch vụ đều vô hình, không ng như những sản phẩm vật chất, chúng không thể nhìn thấy, cảm nhận, nếm, nghe, ngửi được trước khi khách hàng mua và sử dụng nó. Tinh không thể tách rời: Dịch vụ thường sản xuất và tiêu dùng một cách đồng thời, khác hin với hàng hoá vật chất — sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều cấp trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Còn đối với dịch vụ, thì người cung ứng dịch vụ và khách hàng cùng có mặt đồng thời và cùng tham gia vào quá trình sản xuất dịch vụ, cho. nên sự giao tiếp của hai bên tạo ra tính chất khác biệt của Marketing dich vu Tỉnh đa dạng và không ồn định về chất lượng: Chất lượng dịch vụ thường không xác định vì nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó.
Cuộc phẫu thuật do một giáo sư đầu ngành thực hiện sẽ có chất lượng cao hơn nhiều so với một bác sỹ ngoại khoa mới vào nghề và các cuộc phẫu thuật của riêng giáo sư cũng sẽ khác nhau tùy theo. tình trạng sức khoẻ và trạng thái tinh thần của ông lúc tiến hành ca m6. Tính không lưu giữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt đề cất vào kho dự trữ, khi thị trường có nhu cầu thì đem ra bán.
Ví như một tổng đài điện thoại vẫn phải hoạt động khi không có cuộc điện thoại nào vào những giờ nhàn rỗi, nhưng doanh nghiệp viễn thông vẫn phải tính khấu hao, tính chỉ phí điện và nhân công để trực vận hành hệ thống tổng đài Đặc tính này sẽ ảnh hưởng đến các chính sách của marketing dịch vụ như chính sách giá cước thay đồi thời gian, chính sách dự báo nhu cầu, kế hoạch bố trí nhân lực. Hệ thống cung cấp dịch vụ Để cung cấp dịch vụ cho khách hàng, doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống cung cấp dịch vụ, bao gồm các thành tố sau: - Khách hàng: Là người thụ hưởng dịch vụ, là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên hệ thống dịch vụ. Chất lượng dịch vụ cao hay thấp chủ yếu dựa vào sự cảm nhận và lựa chọn của khách hàng. 10 ~ Cơ sở vật chất: Bao gồm hệ thống các trang thiết bị cần thiết cho việc.
cung cấp dịch vụ, địa điểm diễn ra giao dịch, các hoạt động và môi trường sử dụng dịch vụ. - Người cung cấp dịch vụ: Bao gồm các nhân viên tuyết , gián tiếp và cán bộ quản lý. Họ là cầu nói giữa doanh nghiệp và khách hàng, thay mặt doanh nghiệp phục vụ và làm hài lòng khách hàng. Tuy nhiên trong một số loại dịch vụ không cần sự xuất hiện của người cung cấp và khách hàng ~ Dịch vụ: Là mục tiêu và đồng thời cũng là kết quả của toàn hệ thống.
Dịch vụ được quyết định bởi các kịch bản đã vạch ra và kịch bản đó quy định và chỉ phối cấu trúc dịch vụ. Ngược lại cấu trúc dịch vụ lại chỉ phối sự hình thành của hệ thống dịch vụ. - Tổ chức nội bộ trong doanh nghiệp dịch vụ: Hệ thống này là vô hình và không định lượng được. Tổ chức này bao gồm các chức năng cơ bản như: quản trị nhân sự, tài chính, sản xuất, marketing, nghiên cứu phát .Tổ chức nội bộ quyết định quá trình hoạt động sáng tạo để cung cấp dịch vụ của cả hệ thống dịch vụ.
- Các khách hàng khác: Các khách hàng đang cùng sử dụng dịch vụ luôn có tác động qua lại lẫn nhau, trong đó họ vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực đối với doanh nghiệp. KHAI NIEM VE MARKETING VA MARKETING DICH VU 1. Marketing - Khai nigm: Philip Kotler trong marketing căn bản đã khái niệm: Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những như cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi. - Quan điểm của Marketing là bán những gì thị trường cần chứ không phải bán những gì mình có.
~ Hoạt động của Marketing bao trùm lên tắt cả các khâu trong quá trình 1I sản xuất kinh doanh chứ không phải chỉ ở khâu bán hàng, vì vậy marketing là hoạt động quản lý doanh nghiệp hướng ra thị trường, thị trường vừa là điểm xuất phát vừa là đích đến. Marketing dịch vụ - Khái niệm: Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống với những quy luật của thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tô chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội. Theo TS Lưu Văn Nghiêm Marketing dịch vụ nên được phát triển toàn diện trên cả ba dạng: Đó là marketing bên ngoài, marketing nội bộ và marketing tương tác.
Trong đó, marketing tương tác là marketing quan trọng. nhất của marketing dịch vụ [1, tr. 330] ~ Đặc trưng của marketing dịch vụ: Marketing dịch vụ giúp cho doanh nghiệp hiểu biết và dự đoán các nhu cầu của khách hàng, cung cấp các lợi ích cho khách hàng và thoả mãn các nhu cầu của họ, đảm bảo chất lượng dịch vụ, giữ khách hàng hiện có, đồng thời thu hút khách hàng mới, nhằm đạt được mục tiêu phục vụ và kinh doanh của tổ chức. 11] - Vai trò của marketing dịch vụ: Marketing góp phần xây dựng chất lượng dịch vụ.
Quảng bá hình ảnh của dịch vụ đến người tiêu dùng. Giới thiệu những tính năng của dịch vụ Hoạt động quảng bá hình ảnh được xem như là một bản tuyên bố sứ mệnh của dịch vụ, và là lời cam kết hiệu quả nhất đến khách hàng. 12 Thông qua hoạt động marketing, ban lãnh đạo công ty hay người phụ trách các SBU nắm được nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ, biến động thị trường, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh. ~ Bản chất của marketing dịch vụ Có thể khái quát bản chất marketing dịch vụ như sau: Marketing dịch vụ là sự vận dụng và thích nghỉ lý thuyết marketing.
truyền thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm các quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn nhu cầu và mong muốn của thị trường mục tiêu bằng hệ thông các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguôn lực của tổ chức. Khái niệm Marketing dịch vụ không giới hạn trong hoạt động thị trường phục vụ sản xuất kinh doanh mà đề cập đến các vấn đề sau: - Nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm nhu cầu của thị trường mục tiêu và những yếu tố chỉ phối thị trường mục tiêu. - Thoả mãn nhu cầu có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở. khai thác và huy động tốt các nguồn lực của tổ chức.
- Thực hiện cân bằng động các mối quan hệ của sản phẩm dịch vụ (loại hình, số lượng, chất lượng) với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng. ~ Cân bằng ba lợi ích: Lợi ích của xã hội, của người tiêu dùng và của người cung ứng dịch vụ trong sự nghiệp phát triển bền vững. ~ Hoạt động marketing diễn ra trong toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ, bao gồm các giai đoạn trước tiêu dùng, tiêu dùng và sau tiêu dùng. Trong Marketing dịch vụ, khách hàng có thể là cá nhân hay tổ chức, sản phẩm có thể vô hình hay cả vô hình lẫn hữu hình và các tổ chức tham gia có thể nhằm vào lợi nhuận hay phi lợi nhuận.
13 - Khái quát về tam giác marketing dich vu DOANH NGHIỆP. Bộ phận marketing/đội ngũ bán Đưa ra lời hứa Phát triên SP liên tục. Marketing nội bộ Marketing bên ngoài CON NGƯỜI Giữ lời hứa KHÁCH HÀNG CÔNG NGHỆ Quá trình phục vụ KIÊN THỨC Marketing tương tác/nhân TH/GIAN CUA KH vién marketing ban hang Hình 1. Tam giác marketing dich vụ 1.
Marketing hỗn hợp (Marketing Mix) - Khai niệm: Marketing — Mix là tập hợp những công cụ marketing mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục tiêu. - Marketing ~ Mix là một bộ các biến số có thể điều khiển được, chúng.