Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghiên cứu sự gắn kết của nhân viên. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: 't quả nghiên cứu. Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ GẮN KET CUA NHAN VIEN 1. SỰ GẮN KET CUA NHÂN VIÊN 1.
Khái niệm về sự gắn kết của nhân viên Sự gắn kết của nhân viên cho đến nay có rất nhiều định nghĩa. Kahn (1990) [7] nhân viên sẽ làm việc và trải nghiệm bằng tất cả tâm trí, hiểu biết và thể chất trong suốt quá trình làm việc khi họ có sự gắn kết Còn theo Maslach & Leiter (1997) (Trích lại trong Maslach et al 2001) [9] thì sự gắn kết với công việc được thể hiện qua một tâm trí tích cực làm việc và đối nghịch với sự kiệt sức. Một công việc đem đến cảm giác quan trọng, ý nghĩa, thử thách trở thành một công việc gây nên sự khó chịu, không thỏa mãn và vô nghĩa. Nguồn năng lượng làm việc của người lao động dần trở thành sự kiệt sức, sự tham gia vào công việc của nhân viên trở thành sự hoài nghi, sự hiệu quả biến mắt.
Theo đó, sự gắn kết được thể hiện qua năng lượng, sự tham gia và hiệu quả làm việc. Harter (2002) [5] cho rằng sự gắn kết nhân viên liên quan đến sự tham gia và sự hài lòng cũng như sự hăng hái của cá nhân trong công việc.Saks (2006) [12], sự gắn kết nhân viên được xác định là một cấu trúc khác biệt và duy nhất bao gồm các yếu tố nhận thức, cảm xúc, hành vi liên quan đến sự thể hiện vai trò của cá nhân trong tô chức. Slaski & Cowan (2009) (Trích lại trong Thomas Engage @ 2015) [13] nhân viên gắn kết với công việc là kết quả của một môi trường làm việc tích cực được cảm nhận từ cả tinh thần và thể chất của nhân viên. Điều này dựa trên mối quan hệ trong công việc của người lao động, về vai trò và các thành quả mà người lao động đạt được Theo Jon Hellevid et al (2012) [6] gắn kết nhân viên nhằm mục đích đạt được mục tiêu của tô chức bằng cách tạo ra các điều kiện đề người lao động, phát triển.
Mỗi nhân viên, quản lí, người lãnh đạo đều được thúc đây để có thẻ nỗ lực hết khả năng trong công. Theo Marciano trong téc phim “Tạm biệt cây gây và củ cà rốt” [8] giải thích: Từ "gắn kết" (engagement) xuất phát từ tiếng Pháp cỗ (en + gage) có nghĩa là "bảo đảm bằng chính bản thân mình". Mặc dù không đến mức thay đổi cuộc sống hoàn toàn, nhưng khi nhân viên gắn kết có nghĩa là họ cam kết tận tâm và trung thành với tổ chức, với công việc và các đồng nghiệp. Khi nhân viên thực sự gắn kết, nhân viên tự nguyện tham gia cùng tổ chức trên suốt một chặng đường dài.
Tuy nhiên tác giả nhận thấy khái niệm ma Schaufeli va Bakker (2001) (Trich lai trong Utrecht Work Engagement Scale, 2004) [10] về sự gắn kết nhân viên là tương đối phù hợp và đầy đủ nên tác giả sử dụng định nghĩa nay làm định hướng cho nghiên cứu. Schaufeli và Bakker (2001) cho rằng gắn kết nhân viên được định nghĩa là trạng thái tinh thần tích cực, thỏa mãn, có liên quan đến công việc được đặc trưng bởi các thuộc tính sự hăng hái, công hiến và say mê. Gắn kết công việc bao hàm cả những trạng thai tinh than thé hiện về suy nghĩ lời nói và hành động của nhân viên với công việc: đó là sự để tâm vào công việc, tận tụy với công việc, làm việc với niềm đam mê và nhiệt thành, cống hiến cho công việc, nỗ lực và đầy sinh lực làm việc. Các thành phần của sự gắn kết Theo Schaufeli va Bakker (2001) (Trich lai trong Utrecht Work Engagement Scale, 2004) [10], các thành phần của sự g: ét của nhân viên bao gồm sự hăng hái, cống hiển và mê say.
- Sự hăng hái (Vigor): đặc trưng bởi mức năng lượng và khả năng phục hồi tỉnh thần khi làm việc, sự sẵn lòng đầu tư công sức vào công việc, sự kiên trì ngay cả khi đối mặt với khó khăn. - Sự cổng hiến (Dedication): Sự công hiến đề cập tới sự tham gia mạnh. mẽ vào công việc, trải nghiệm cảm giác nhiệt tình, cảm hứng, tự hào và thách. thức trong công việc.
~ Sự mê say (Absorption): được đặc trưng bởi sự tập trung hoàn toàn và hạnh phúc, hãng hái trong công việc của nhân viên, theo đó thời gian sẽ trôi qua một cách nhanh chóng và nhân viên sẽ gặp khó khăn khi tách mình ra khỏi công việc. Theo tổ chức Towers Perrin — ISR (2003) [14] chia sự gắn kết của nhân viên làm 3 thành phần: nhận thức, tình cảm, hành vi Hình 1. Các thành phần của sự gắn kết của nhân viên (Nguôn: Towers Perrin - ISR — Engaged employees drive the bottom line, 2003) - Nhận thức (Cognitive or Thỉnk): liên quan đến việc đánh giá một cách hợp lí của nhân viên về các mục tiêu và các giá trị của công ty - Tinh cam (Affective or Feel): nhan vién cé tinh cảm về những điều thuộc về tổ chức và tự hào về tổ chức. - Hanh vi (Behavioural or Act): nhan vién cé sự nắm bắt các điều mà nhà lãnh đạo mong muốn như duy trì và sẵn sàng làm nhiều hơn cho tổ chức khi cần thiết.
Ngoài ra còn có Rothbard (2001) (Trích lại trong Alan Saks, 2006) [12] cho rằng sự gắn kết nhân viên gồm có hai thành phần là sự chú tâm và mê say. Sự chú tâm liên quan đến khả năng nhận thức và dành nhiều thời gian để nghĩ về công việc. Sự mê say liên quan đến sự tập trung và đam mê với công vi 1. Phân loại mức độ gắn kết của nhân viên Theo tổ chức tư vấn DecisionWise [33], họ chia nhân viên thành 4 nhóm.
với các mức độ gắn kết như sau: ~ Nhóm hoàn toan gin két (Fully Engaged): Day là những con người năng động nhất tham gia tích cực nhất vào công việc. Ở họ lan tỏa một năng. lượng tích cực ra xung quanh, không ngừng học hỏi và tính toán các rủi ro. Họ muốn thoát ra khỏi vùng an toàn của bản thân, tìm kiếm tình yêu và niềm vui trong công việc ngay cả khi ở trong những tình huồng căng thẳng và luôn thỏa mãn với chất lượng công việc.
~ Nhóm những người đóng góp chinh (Key Contributors): Họ là những. người đáp ứng được các yêu cầu của công việc và lãnh đạo. Họ thấu hiểu công việc mình đang làm, tuy nhiên lại không nhận thấy các rủi ro tiềm ẩn và không cảm thấy công việc thử thách. Đối với họ, yêu công việc là không cần thiết mà chỉ cần tích cực đóng góp và tham gia vào công việc.
Đây là nhóm người chiếm tỉ lệ cao và ôn định trong tô chức. Họ xem công việc là một sự giao dịch, họ tham gia nhưng không đặt bản thân vào công việc. ~ Nhóm những người cơ hội (pportniqy Group): Họ là những người cảm thấy không được trọng dụng, dùng phân lớn thời gian trong công việc cho nhu cầu của bản thân. Họ chỉ làm vừa đủ để có thể né tránh rắc rối và hiếm khi lên tiếng.
Đối với họ, công việc chủ yếu là vì thu nhập, đóng góp 10 một cách có giới hạn nhưng cũng không gây ồn ào. Đây là nhóm rất khó để nhận diện trong tổ chức. ~ Nhóm hoàn toàn không gin két (Fully Disengaged): Ho 1a nhitng con người chán nản và chống đối. Họ luôn nói những tiêu cực về công việc, về lãnh đạo và về công ty.
Ở họ có xu hướng đỗ lỗi cho người khác, thay vì rời bỏ công ty, họ có xu hướng ở lại và phá hoại. Họ thường lớn tiếng và là những người truyền nhiễm sự tiêu cực. Có rất nhiều nhà lãnh đạo không đề ý đến nhóm này bởi số lượng nhỏ, nhưng họ lại tiêu tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc của công ty để có thể đáp ứng được yêu cầu của họ. Ngoài ra, có rất nhiều cách để phân loại và nhận diện các mức độ gắn kết của nhân viên theo tô chức BlessingWhite [2], mức độ gắn kết của nhân viên được chia làm 5 mite: The Engaged, Almost Engaged, Honeymooners & Hamsters, Cash & Burers, The Disengaged được hiểu ở các mức độ sau: hoàn toàn thỏa mãn và đóng góp, đóng góp và thỏa mãn ở mức trung bình trở lên, thỏa mãn vừa phải và ít đóng góp, đóng góp nhiều và ít thỏa mãn, ít thỏa mãn và đóng góp.
ẢNH HƯỚNG CỦA VIỆC GẮN KÉT NHÂN VIÊN ĐÓI VỚI TÔ CHỨC Trong một nghiên cứu được tiến hanh boi Towers Perrin — ISR nam 2003 [14] sử dụng dữ liệu từ 360,000 nhân viên từ 41 công ty đến từ 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Họ đã nghiên cứu mối quan hệ giữa mức độ gắn kết của nhân viên và hiệu quả tài chính, được đo bởi sự thay đổi trong lợi nhuận hoạt động và biên lợi nhuận ròng. So sánh các công ty có sự gắn kết cao và sự gắn kết thấp trong suốt giai đoạn 3 năm, sự khác biệt là rat dang ké, rõ rằng sự gắn kết nhân viên mang lại lợi ích cho tô chức.00% Lợi nhuận hoạt động Biên lợi nhuận ròng Gắn kết thấp Gắn kết cao Hình 1. Ảnh hưởng của sự gắn kết nhân viên đến hiệu quả kinh doanh (Nguén: Towers Perrin - ISR ~ Engaged employees drive the bottom line, 2003) Có thể thấy ở các công ty có mức độ gắn kết nhân viên cao, lợi nhuận của công ty tăng trưởng trong suốt 3 năm, trong sự đối nghịch với các công ty có sự gắn kết nhân viên thấp.
Trong báo cáo của Đại học Harvard nghiên cứu về sự ảnh hưởng của sự gắn kết nhân viên đối với hiệu quả của tô chức năm 2013 (Harvard Business Review - The Impact of Employee Engagement on Performance, 2013) [4], gắn kết nhân viên đã trở thành một ưu tiên hàng đầu đối với các nhà quản trị Trong sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, nhà quản trị nhận thấy rằng những nhân viên giỏi chính là yếu tố cần thiết cho sự phát triển và tồn tại của tô chức. Nhà quản trị cũng nhận thấy rằng, những nhân viên gắn kết mật thiết có thể gia tăng sự sáng tạo, năng xuất lao động, hiệu suất công việc, cắt giảm. được chỉ phí tuyển dụng và đảo tạo trong thị trường cạnh tranh khốc liệt. Có 71% người khảo sát cho rằng sự gắn kết nhân viên có một vai trò quan trọng trong việc đạt được những thành công của tô chức, 72% người khảo sát thừa nhận sự hiệu quả trong hoạt động của tô chức nhờ có sự ảnh hưởng đáng kể bởi sự gắn kết nhân viên.