Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Mô hình nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu đo lường chất lượng dịch vụ Internet Banking tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu - Chỉ nhánh Quảng Nam. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kết luận và các hàm ý cho quản trị. Tổng quan và tài liệu nghiên cứu “Trong quản lý chất lượng hiện đại, triết lý hướng đến khách hàng đang đóng vai trò chủ đạo.
Một trong những yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát của một doanh nghiệp là sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng. sản phẩm-dịch vụ mình cung ứng. Đối với mọi dịch vụ thì chất lượng là một yếu tố khó. kiểm soát và đo lường.
Hiện nay, khách hàng mong đợi và yêu cầu chất lượng dịch vụ phải tốt hơn và tốt hơn nữa. Phải cung ứng được sản phẩm có hiệu quả về chất lượng là đòi hỏi đối với công ty nhằm làm thỏa mãn khách hàng. Chất lượng là một tiêu chuẩn để đo lường, do đó các công ty cung cắp chất lượng tốt phải tạo nên sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh. Hay cách khác, chất lượng được hiểu như là một vũ khí cạnh tranh (Pasasuraman), chất lượng này phải được đánh giá bởi chính khách hàng chứ không phải bởi doanh nghiệp.
Như vậy, việc khảo sát đánh giá chất lượng dịch vụ qua ý kiến của khách hàng, là điều cần thiết. Qua đó, nhà cung cấp. dịch vụ có cách nhìn nhận khách quan về những gì mình đã cung cấp, những gì mình được kỳ vọng thay vì chỉ quan tâm đến việc chạy đua giảm giá cước. Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu, bài viết về đo lường dịch vụ và đo lường chất lượng dich vụ internet ngân hàng.
- Bộ thang đo SERVQUAL nhằm để đo lường sự cảm nhận dịch vụ. thông qua năm hướng chất lượng dịch vụ được định nghĩa bởi Parasuraman và cộng sự (1988): Thang đo SERVQUAL năm thành phần chất lượng dịch vụ đã được sử dụng rộng rãi (Asubonteng và cộng sự, Buttle, 1996; Robinson,1999). Đó ïn cậy, Đáp ứng, Năng lực phục vụ, Đồng cảm, Phương tiện hữu hình. ~ Mô hình SERVPERF (Cronin & Taylor, 1992) Sử dụng mô hình chất lượng và khoảng cách làm cơ sở để đánh giá chất lượng dịch vụ cũng có nhiều tranh luận (Carmen, 1990; Babakus & Boller, 1992; Cronin & Taylor, 1992).
Cronin va Taylor (1992) cho rằng mức độ cảm. nhận của khách hàng đối với sự thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ. Vì thế theo mô hình SERVPERF (Cronin và Taylor,1992) cho rằng Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận. Kết luận này đã được chấp nhận bởi nhiều tác giả khác như Lee và cộng sự (2000), Brady và cộng sự (2002).
Bộ thang đo SERVPERE đã sử dụng 22 mục phát biểu tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng. ~ Nguyễn Lâm Hoàng Yến (2013), Luận văn thạc sĩ “Đo lưởng chất lượng dịch vụ IB của NH TMCP Á Châu, chỉ nhánh Đà Nẵng", Luận văn đã sử dụng. 21 biến của 5 nhân tố gồm sự tin cậy, sự đáp ứng, phương tiện hữu hình, năng. lực phục vụ, sự thấu cảm và 3 biến phần cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng đề đo lường tại MH TMCPA Châu, chỉ nhánh Đà Nẵng.
Nghiên cứu này đem lại kết quả và những đóng góp nhất định, phần nào. giúp cho ACB Đà Nẵng hiểu rõ được những nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng địch vụ IB từ đó đo lường mức độ thỏa mãn hài lòng của người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm có những chiến lược kinh doanh phù hợp. ~ Chanaka Jayawardhena (2004): Đo lường chất lượng dịch vụ trong Internet Banking: Sự phát triển của một công cụ. Nghiên cứu này phát triển các thang đo có thể được sử dụng để đo lường dịch vụ khách hàng chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử.
Nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng dịch vụ trong ngân hàng điện tử có thể được đo lường bằng cách sử dụng hai mươi mốt biến trải rộng trên năm thang đo, cụ thể là truy cập, giao điện trang web, tỉn cậy, sự chú ý và uy tín. Bài báo thảo luận về tầm quan trọng của những phát hiện này đối với các học viên và cho nghiên cứu trong tương lai về chất lượng dịch vụ trên Internet banking. Ngoài ra bài báo do lường chất lượng dịch vụ internet banking: The Case of Hong Kong ciia Noel Yee-Man Siu va Jeremy Chi-Wah Mou , Nghiên cứu này điều chỉnh các khía cạnh của e-SERVQUAL (Zeithaml và cộng sự, 2000, 2002) và có gắng kiểm tra nhận thức về chất lượng dịch vụ của. khách hàng trong ngân hàng Internet, cũng như tác động của những điều này đối với sự hài lòng của khách hàng và ý định tiêu dùng trong tương lai.
Hồng Kông, một trung tâm thương mại và dịch vụ khu vực ở châu Á, được thông qua như một trường hợp nghiên cứu. Bốn khía cạnh phân tích được xác định: uy tín, hiệu quả, xử lý vấn đề và bảo mật. Các phát hiện chỉ ra rằng tắt cả các yếu tố ngoại trừ bảo mật đều được coi là quan trọng trong việc xác định nhận thức về chất lượng dịch vụ tông thể. Sự tín nhiệm, xử lý vấn đề và bảo mật có.
tác động đáng kể đến sự hài lòng của khách hàng. Hơn nữa, bảo mật và hiệu quả có liên quan đáng kể với hành vi tiêu dùng trong tương lai. thảo luận và các khuyến nghị được đưa ra cho các dịch vụ ngân hàng Internet CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ INTERNET BANKING 1. Khái niệm dịch vụ Theo Gronroos (1990), dẫn theo Paul Lawrence Miner (1998) cho rằng dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô.
hình thường, nhưng không cần thiết diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng. ~ Dịch vụ là những lao vụ được thực hiện không liên quan đến sản xuất hàng hóa(Theo từ điển tiếng Đức). - Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liễn với sản phẩm vật chất.v ~ Dịch vụ theo nghĩa hẹp là những hoạt động không sản xuất ra của cải vật chất.do những người bỏ sức lao động cung cắp hiệu quả vô hình mà không có sản phẩm hữu hình.
Theo nghĩa rộng, đó là những hoạt động đưa lao động sống vào sản phẩm vật chất để thỏa mãn nhu cầu nào đó của người khác (Theo tir Kinh tế thị trường Trung Quốc). ~ Dịch vụ là sự phục vụ góp phần đáp ứng các nhu cầu của cá nhân hay tập thể khác với thể thức chuyển quyền sở hữu một thứ của cải vật chất nào. - Dịch vụ là. một sản phẩm kinh tế không phải là một vật phẩm mà là công việc của con người dưới hình thái là lao động thể lực,kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại(Giáo trình kinh tế các ngành thương mại dịch vụ_ Trường ĐHKTQD 2003).
~ Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cầp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để. đáp ứng nhu cầu của người tiêu dung(ISO 9004 ~ 2:199 E) 1.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là hàng hóa đặc biệt, nó có những nét đặc trưng mà hàng hóa hữu hình không có. Dịch vụ bao gồm 4 đặc điểm nôi bậc đó là: * Dịch vụ có tính không hiện hữu: Là một đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Đặc điểm này cho thầy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể.
Tuy vậy sản phẩm dịch vụ mang năng tính vật chat. Tinh không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Nhờ đó người ta có thể xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ và hàng hóa hiện hữu. “Trên thực tế từ hàng hóa hiện hữu tới dịch vụ phi hiện hữu có 4 mức độ sau: ~ Hàng hóa hiện hữu hoàn hảo, ~ Hàng hóa hoàn hảo: bao gồm hàng hóa hiện hữu khi tiêu dùng phải có dịch vụ đi kèm để tăng sự thỏa mãn.
~ Dịch vụ chủ yếu, được thỏa mãn thông qua sản phẩm hàng hóa hiện hữu. ~ Dịch vụ hoàn hảo: hoàn toàn không hiện hữu. Để nhận biết dịch vụ thông thường phải tìm hiểu qua những đầu mối vật chất trong môi trường hoạt động dịch vụ. ® Dịch vụ có tính không đồng nhất: Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ(Thâm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chi để 10 đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô.
hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng - nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều). * Dich vụ có đặc tính không tách rời: Hàng hoá được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh. nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung, hàng loạt, và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung.
Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu. Do vậy, họ để thực hiện cân đối cung cầu. Nhưng quá trình cung cấp Dịch vụ và tiêu dùng Dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp Dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng DV tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên.
Đối với một số các Dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cắp Dịch vụ. ® Sản phẩm dịch vụ mau hỏng: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, Dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán.