CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC 1. NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUÔN NHÂN LỰC 1. Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực a. Nguôn nhân lực Để xây dựng và phát triển kinh tế, mỗi quốc gia đều phải dựa vào các nguồn lực cơ bản như: tải nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, tiềm năng về khoa học công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn, trong đó nguồn nhân lực (nguồn lực con người) luôn là nguồn lực cơ bản và chủ yếu nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia.
Tiếp cận vấn đẻ nảy ở nhiều góc độ khác nhau, các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm về nguồn nhân lực để phủ hợp với mục tiêu nghiên cứu Dé hi khái niệm về nguồn nhân lực, trước tiên ta cần làm rõ khái niệm về nhân lực. Nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hoặc một xã hội. Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tô chức, của xã hội. Từ khái niệm nhân lực, ta có thể đi đến nghiên cứu một cách sâu sắc khái niệm nguồn nhân lực.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực. Ta có thể kể tới các khái niệm sau: Theo như Nicolas Herry trong cuén Public Administration and Public affairss (Quản trị công và vấn đề công) thì: “Nguén nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [14]. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố thể chất, tỉnh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự. phát triển nói chung của các tổ chức.
Báo cáo đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực của Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ. lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người” [14]. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực. Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực, khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng chúng vào mục đích hoàn thành mục tiêu chung của một tổ chức.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tắt cả những. người lao động trong tổ chức đó” [9]. Bao gồm tắt cả các cá nhân tham gia bắt kỳ hoạt động nào của tổ chức, bắt kể vai trò của họ là gì. Xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung.
cơ bản: Nguồn nhân lực là tông thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoả các tiêu chí vẻ trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tỉnh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì mục tiêu cụ thể của một tổ chức nói riêng và của sự phát triển, tiến bộ xã hội nói chung. Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho các tô chức, cho xã hội. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tô chức. Đào tạo nguồn nhân lực Công tác đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng nguồn nhân lực.
Hiện nay giữa các quốc gia hay doanh nghiệp đều có. sự canh tranh gay gắt về chất lượng nguồn nhân lực. Đảo tạo đóng vai trò quan trọng đối với nhân viên mới hoặc nhân viên hiện tại, là nỗ lực cải thiện hiệu quả làm việc hiện tại hoặc tương lai. Trong thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về đảo tạo: "Đảo tạo là quá trình thay đổi có hệ thống hành vi của nhân viên làm sao giúp nhân viên đạt được những mục tiêu của tổ chức.
Đảo tạo tức là chỉ bảo các kỹ năng và khả năng cần có của các công việc hiện tại. Nó có một chương. trình định hướng hiện tại và giúp nhân viên thành thạo các kỹ năng và khả năng cụ thể cần có nếu muốn thành công trong công việc. Đào tạo là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kỹ năng, những quy tắc, hành vi hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa những đặc điểm của nhân viên và yêu cầu của công việc.
Theo tác giả, các năng lực (bao gồm kiến thức, kỹ năng, và hành vi) đó rất quan trọng đối với hiệu sì t hoàn thành công việc. Mục tiêu của đảo tạo là làm cho nhân viên nắm vững các kiến thức, kỹ năng và hành vi được nhắn mạnh trong chương trình đảo tạo và áp dụng chúng vào hoạt ng hằng ngày của họ. Theo Nguyễn Quốc Tuần v: ng sự (2006) thì lào tạo là tông thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho người lao động. được thực hiện bởi doanh nghiệp” [10].
Như vậy, các tác giả ở đây không. những chỉ ra mục đích mà còn gợi ý cả cách thức để thực hiện việc đảo tạo. 10 Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về đảo tạo nguồn nhân lực trong tô chức khác nhau, tuy nhiên về cơ bản các định nghĩa đều thừa nhận: “Đào tạo. là một quá trình học tập lý luận và kinh nghiệm để tìm kiếm một sự biến đổi về chất tương đối lâu dài của một cá nhân, giúp cho cá nhân có thêm năng lực thực hiện công việc.
Nhờ đào tạo người lao động tăng thêm hiểu biết, đôi mới phương pháp, cách thức, kỹ năng, thái độ làm việc và thái độ đối với cộng sự” [12] Do vậy, đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. đó, trong các tổ chức, công tác đào tạo và phát triển cần phải được thực hiện một cách có tô chức và có kế hoạch. Cồn trong khuôn khổ luận văn này đào tạo nguồn nhân lực được hiểu: là tổng thể các hoạt động có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tác động lên quá trình học tập hướng đến việc nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành của người nhân viên liên quan đến công việc 1. Mục đích, ý nghĩa của đào tạo nguồn nhân lực a.
Mục đích của đào tạo nguôn nhân lực Mục đích chung của đào nguồn nhân lực là sử dụng tối đa các nguồn lực, nâng cao các nguồn lực hiện có, nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững những. nghề nghiệp và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn với thái độ tích cực hơn, nâng cao khả năng thích ứng của họ với công. việc trong tương lai. Đào tạo nguồn nhân lực nhằm mục đích nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó tại tổ chức, thực chất của công tác đào tạo nguồn nhân lực.
là nâng cao năng lực và động cơ của người lao động. " Những mục tiêu cơ bản của đảo tạo nguồn nhân lực của tổ chức: ~ Tính hữu hiệu của chương trình dao tạo: Liệu những người được đảo tạo có học hỏi được những kỹ năng hay có được những kiến thức hoặc khả. năng trong quá trình đảo tạo không? ~ Tính hữu hiệu khi thuyên chuyển: Liệu những kiến thức, kỹ ning hoặc khả năng học được trong quá trình đảo tạo có giúp cải thiện hiệu quả công việc không. ~ Tính hữu hiệu bên trong tổ chức: Liệu hiệu quả công việc của nhóm những người mới được đào tạo trong cùng một tổ chức có bằng với hiệu quả công việc của những nhóm đã được đảo tạo trước đây hay không? - Tinh hữu hiệu bên ngoài tổ chức: Liệu một chương trình đào tạo có hiệu quả trong tổ chức nảy có thể áp dụng thành công trong tổ chức khác hay không? b.
Ý nghĩa của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó giúp cho quan hệ giữa tổ chức và người lao động gắn kết với nhau, nâng cao tính én định và năng động của tổ chức. Đối với người lao động, đào tạo sẽ tạo cho người lao động cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ và cũng là cơ sở phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc. Được đi đào tạo họ cảm thấy mình có vai trò quan trọng trong tô chức, từ đó tạo ra một sự gắn bó giữa họ và tổ chức.
Điều quan trọng là nó đã tạo động lực làm việc cho người lao động vì nó đã đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng phát triển của họ. Đối với nền kinh tế, đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa thiết thực đó là tạo ra một nền kinh tế phát triển với đội ngũ lao động chất lượng, khăng định vị thế cạnh tranh của mình với các nước trong và ngoài khu vực. Trong giai đoạn hội nhập này, cảng đỏi hỏi người lao động phải có trình độ cao và chỉ có đào tạo mới đáp ứng được điều này. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực Ngày nay, đào tạo được coi như một khoản đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của tổ chức.
Các nghiên cứu cho thấy hiệu quả của những nhân viên mới được đảo tạo ngang bằng với những nhân viên có kinh nghiệm. Đồng thời, dao tạo tạo ra nguồn nhân lực hiện tại và tương lai cho tổ chức. nhiều bằng chứng kinh tế chứng tỏ rằng việc đầu tư cho đào tạo gắn liền với khả năng sinh lợi lâu dai và bền vững cho tổ chức.