Tổng quan nghiên cứu

Du lịch Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đã có những bước tiến vượt bậc, khẳng định vị thế là một trong năm ngành kinh tế mũi nhọn đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho đất nước. Năm 2012, cả nước đón 6,8 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ 32,5 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng doanh thu 160.000 tỷ đồng. Tỉnh Quảng Bình sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn vô cùng phong phú với Di sản Thiên nhiên Thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, hang Sơn Đoòng, bãi biển Nhật Lệ, suối khoáng nóng Bang cùng hệ thống di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Nhờ những lợi thế vượt trội, năm 2012 đánh dấu lần đầu tiên du lịch Quảng Bình vượt mốc 1.045.980 lượt khách, đạt tốc độ tăng trưởng khách bình quân 13%/năm trong giai đoạn 2008 - 2012.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng về lượng khách đã bộc lộ điểm nghẽn lớn trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch tại địa phương. Nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn này vừa thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng, vừa yếu kém về chất lượng chuyên môn, tính chuyên nghiệp và trình độ ngoại ngữ. Cơ cấu lao động còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp tốc độ mở rộng của hệ thống cơ sở hạ tầng lưu trú và dịch vụ lữ hành.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch, phân tích thực trạng công tác đào tạo tại các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2008 đến 2012. Từ đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ lao động, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế du lịch bền vững giai đoạn 2015 - 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống giải pháp định lượng giúp nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành đạt trên 75% vào năm 2015 và tăng ngày lưu trú bình quân của du khách vượt mốc 2,0 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực và kinh tế du lịch hiện đại. Tác giả vận dụng quan điểm của các chuyên gia kinh tế phát triển hàng đầu Việt Nam, xác định nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng về thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức của người lao động được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh du lịch.

Bốn lý thuyết và mô hình trọng tâm được tích hợp bao gồm:

Thứ nhất, mô hình đánh giá hiệu quả đào tạo bốn cấp độ của Donald Kirkpatrick, bao gồm đánh giá Phản ứng của học viên (Reaction), Kết quả học tập kiến thức kỹ năng (Learning), Ứng dụng hành vi vào công việc thực tế sau 3 đến 6 tháng (Behavior), và Kết quả tác động đến chỉ số kinh doanh của tổ chức (Results).

Thứ hai, lý thuyết đặc thù lao động dịch vụ du lịch, nhấn mạnh tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, trong đó chất lượng dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào thái độ và kỹ năng của nhân viên tiếp xúc. Nội dung đào tạo nhân lực du lịch bắt buộc phải tích hợp năm khối kiến thức: văn hóa - tài nguyên du lịch, kinh tế - quản trị, chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật (buồng, bàn, bar, lễ tân, hướng dẫn), chính trị tư tưởng và ngoại ngữ giao tiếp.

Thứ ba, hệ thống bốn nguyên tắc đào tạo nhân lực cốt lõi: con người có tiềm năng phát triển không ngừng; mỗi cá nhân mang giá trị riêng biệt; lợi ích người lao động hài hòa với mục tiêu tổ chức; và đào tạo là khoản đầu tư sinh lợi dài hạn chứ không phải chi phí tiêu hao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để đảm bảo tính khách quan và khoa học:

Về nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Tác giả khai thác dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình, Cục Thống kê và Hiệp hội Du lịch trong giai đoạn 2008 - 2012. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi với cỡ mẫu 150 phiếu phát ra tại 231 cơ sở lưu trú và các đơn vị lữ hành trên địa bàn tỉnh, thu về 120 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 80%).

Về phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng thuận tiện, phân bổ đều giữa ba nhóm chủ thể: cán bộ quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ quản lý doanh nghiệp khách sạn - nhà hàng, và nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ. Cách tiếp cận này đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch của địa phương.

Về phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tốc độ tăng trưởng định gốc và liên hoàn, phương pháp phân tích chỉ số tỷ lệ và phương pháp tổng hợp tình huống thực tế. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu khách quan giữa chi phí đầu tư đào tạo và kết quả kinh doanh thực tế, từ đó lượng hóa chính xác khoảng cách giữa năng lực hiện tại của người lao động và yêu cầu tiêu chuẩn nghề nghiệp du lịch. Thời gian nghiên cứu tập trung đánh giá chuỗi dữ liệu 5 năm (2008 - 2012) và xây dựng phương án dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và xử lý số liệu thực tế tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008 - 2012 đã chỉ ra bốn phát hiện trọng yếu sau:

Một là, tốc độ tăng trưởng khách du lịch và doanh thu đạt mức cao nhưng thiếu tính bền vững về cơ cấu thị trường. Lượng khách đến Quảng Bình tăng từ 527.661 lượt năm 2008 lên 1.045.980 lượt năm 2012 (tăng gần 98,2%), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13%/năm. Tổng doanh thu du lịch tăng từ 286,98 tỷ đồng năm 2008 lên 996,12 tỷ đồng năm 2012, đạt mức tăng trưởng bình quân ấn tượng 30,65%/năm. Tuy nhiên, khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo với 1.016.326 lượt năm 2012 (chiếm 97,1%), trong khi khách quốc tế chỉ đạt 29.654 lượt (chiếm 2,9%).

Hai là, quy mô cơ sở lưu trú tăng nhanh nhưng hiệu suất lưu trú có xu hướng suy giảm. Toàn tỉnh phát triển từ 158 cơ sở lưu trú với 2.400 buồng năm 2008 lên 231 cơ sở với 3.277 buồng năm 2012 (tăng 36,5% về số buồng). Số lao động trực tiếp tăng từ 1.837 người lên 2.473 người. Dẫu vậy, hệ số lưu trú bình quân của khách lại giảm dần từ 1,19 ngày năm 2008 xuống còn 1,16 ngày năm 2012.

Ba là, cơ cấu doanh thu bị lệch nghiêm trọng, làm giảm giá trị gia tăng trên mỗi lượt khách. Doanh thu từ dịch vụ lưu trú chiếm trên 60% và dịch vụ ăn uống chiếm trên 20% tổng thu nhập du lịch. Các dịch vụ bổ sung, vui chơi giải trí và hoạt động kinh tế đêm chỉ đóng góp dưới 20%, khiến mức chi tiêu bình quân của du khách tại Quảng Bình còn rất thấp.

Bốn là, chất lượng công tác đào tạo nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển. Đa số lao động tại các cơ sở lưu trú nhỏ lẻ chưa qua đào tạo nghiệp vụ bài bản; trình độ ngoại ngữ của đội ngũ lễ tân và hướng dẫn viên còn yếu, khiến địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường khách quốc tế chi tiêu cao.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các doanh nghiệp du lịch tại Quảng Bình có quy mô vừa và nhỏ, nguồn lực tài chính hạn chế nên chưa xem công tác đào tạo là một khoản đầu tư sinh lời. Hoạt động đào tạo chủ yếu mang tính tự phát, chắp vá, thiếu quy hoạch dài hạn và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ba nhà: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp.

Về mặt trực quan hóa số liệu, các dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn tối ưu thông qua các dạng biểu đồ chuyên ngành. Tương quan giữa tốc độ tăng trưởng lượng khách và doanh thu du lịch được minh họa bằng biểu đồ kết hợp (combo chart) dạng cột - đường, phản ánh rõ sự bứt phá của doanh thu với tốc độ tăng trưởng 30,65%/năm. Cơ cấu doanh thu theo nhóm dịch vụ được mô tả trực quan qua biểu đồ tròn (pie chart), chỉ rõ khoảng trống lớn của nhóm dịch vụ vui chơi giải trí dưới 20%. Khoảng cách về chất lượng lao động được trình bày chi tiết qua bảng ma trận phân tích năng lực (skill gap matrix) giữa chuẩn nghề nghiệp VTOS và mức độ đáp ứng thực tế của 2.473 lao động địa phương.

So sánh với mô hình đào tạo nhân lực du lịch tại các trung tâm lớn như Đà Nẵng, mô hình đào tạo tại chỗ có liên kết với khu nghỉ dưỡng cao cấp mang lại hiệu quả vượt trội trong việc chuẩn hóa kỹ năng cho nhân viên. Việc thiếu vắng các chuỗi khách sạn quốc tế 4 - 5 sao tại Quảng Bình trong giai đoạn 2008 - 2012 là nguyên nhân khiến môi trường thực hành nghề nghiệp chưa đạt chuẩn, đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ từ chính sách đào tạo của tỉnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và dự báo nhu cầu lao động đến năm 2020, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi:

Thứ nhất, chuẩn hóa chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Bình cần phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề cấu trúc lại khung chương trình, nâng thời lượng thực hành và mô phỏng tình huống lên mức tối thiểu 60% tổng thời gian khóa học. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo chuyên môn đạt 75% vào năm 2015 và 90% vào năm 2020. Thời gian triển khai thực hiện ngay từ quý 1 năm 2014.

Thứ hai, thiết lập mô hình liên kết đào tạo ba bên giữa Cơ quan quản lý - Cơ sở đào tạo - Doanh nghiệp du lịch. Hiệp hội Du lịch tỉnh Quảng Bình giữ vai trò cầu nối, yêu cầu 231 cơ sở lưu trú và các đơn vị lữ hành tiếp nhận sinh viên thực tập định kỳ có hưởng phụ cấp, đồng thời cử các chuyên gia, trưởng bộ phận giàu kinh nghiệm tham gia thỉnh giảng. Lộ trình thực hiện từ năm 2014 đến năm 2017 nhằm giải quyết triệt để tình trạng đào tạo xa rời thực tế.

Thứ ba, đẩy mạnh đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng giới thiệu văn hóa bản địa. Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh cần phối hợp mở các khóa bồi dưỡng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Thái Lan ngắn hạn cho 100% hướng dẫn viên và nhân viên lễ tân. Giải pháp này hướng tới mục tiêu tăng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,16 ngày lên 2,2 ngày và tăng tỷ trọng khách quốc tế lên trên 10% vào năm 2020. Thời gian thực hiện định kỳ hàng năm trong giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ tư, áp dụng mô hình Kirkpatrick trong quản trị và đánh giá chất lượng đào tạo. Các doanh nghiệp du lịch quy mô từ 2 sao trở lên cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng suất lao động và mức độ hài lòng của khách hàng sau đào tạo ở mốc 3 tháng và 6 tháng. Ban Giám đốc các doanh nghiệp chịu trách nhiệm theo dõi chỉ số hoàn vốn đầu tư đào tạo, gắn quyền lợi học tập với lộ trình thăng tiến của người lao động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Quảng Bình và các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ, bao gồm Sở Du lịch, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học và phương pháp luận để hoạch định chiến lược phát triển nhân lực, xây dựng quy hoạch đào tạo đồng bộ cho 231 cơ sở lưu trú và toàn ngành du lịch địa phương đến năm 2020.

Thứ hai, ban giám hiệu và đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có đào tạo chuyên ngành du lịch. Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực tế về sự thiếu hụt kỹ năng của hơn 2.473 lao động, giúp nhà trường điều chỉnh giáo trình, tăng cường thời lượng thực hành và xây dựng các học phần sát với nhu cầu của nhà tuyển dụng.

Thứ ba, các nhà quản trị doanh nghiệp, giám đốc nhân sự tại các khách sạn, nhà hàng và công ty lữ hành. Luận văn cung cấp cẩm nang thực hành về phương pháp đào tạo tại nơi làm việc và quy trình đánh giá bốn cấp độ, giúp tối ưu hóa chi phí đào tạo và gia tăng doanh thu trên 30%/năm.

Thứ tư, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh và Du lịch học. Tài liệu là một case study điển hình về phương pháp kết hợp định tính - định lượng trong nghiên cứu kinh tế địa phương giai đoạn chuyển dịch cơ cấu dịch vụ.

Câu hỏi thường gặp

Tốc độ tăng trưởng du lịch tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008 - 2012 đạt mức bao nhiêu? Trong giai đoạn 2008 - 2012, lượng khách du lịch đến Quảng Bình đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13%/năm, tăng từ 527.661 lượt khách lên 1.045.980 lượt khách. Doanh thu toàn ngành tăng trưởng bứt phá với tốc độ bình quân 30,65%/năm, từ 286,98 tỷ đồng năm 2008 lên 996,12 tỷ đồng vào năm 2012.

Hạn chế lớn nhất của nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Bình trong nghiên cứu là gì? Hạn chế lớn nhất là sự thiếu hụt lao động có trình độ chuyên môn cao và kỹ năng ngoại ngữ giao tiếp. Mặc dù lực lượng lao động lưu trú đạt 2.473 người vào năm 2012, phần lớn nhân sự chưa qua đào tạo chuẩn mực, dẫn đến ngày lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt 1,16 ngày do thiếu các dịch vụ bổ trợ chuyên nghiệp.

Luận văn đã vận dụng khung lý thuyết và mô hình đánh giá nào? Nghiên cứu áp dụng khung lý thuyết phát triển nguồn nhân lực của ngành kinh tế phát triển kết hợp mô hình đánh giá bốn cấp độ của Donald Kirkpatrick gồm: phản ứng học viên, kết quả tiếp thu kiến thức, khả năng ứng dụng hành vi công việc sau 3 đến 6 tháng, và mức độ đóng góp vào doanh thu của tổ chức.

Doanh nghiệp du lịch đóng vai trò gì trong công tác đào tạo nhân lực? Doanh nghiệp giữ vai trò là chủ thể trực tiếp sử dụng lao động và tham gia đồng đào tạo. Theo khảo sát, hơn 60% hoạt động nâng cao tay nghề diễn ra tại nơi làm việc. Doanh nghiệp cần chủ động phối hợp với cơ sở đào tạo trong việc cung cấp địa điểm thực tập và cử chuyên gia tham gia hướng dẫn học viên.

Giải pháp nào giúp nâng cao ngày lưu trú bình quân của du khách tại Quảng Bình? Giải pháp then chốt là phát triển và chuẩn hóa nhân lực cho các dịch vụ bổ trợ, vui chơi giải trí và hoạt động kinh tế đêm (hiện chiếm dưới 20% doanh thu). Đào tạo chuyên sâu về kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ và văn hóa bản địa sẽ giúp kéo dài ngày lưu trú từ 1,16 ngày lên trên 2,0 ngày.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong ngành kinh tế du lịch đặc thù.
  • Phân tích bức tranh thực trạng du lịch Quảng Bình giai đoạn 2008 - 2012 với mức tăng trưởng khách 13%/năm và doanh thu đạt 996,12 tỷ đồng.
  • Nhận diện rõ các điểm nghẽn về năng lực của 2.473 lao động và hệ số lưu trú bình quân thấp ở mức 1,16 ngày.
  • Đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và 231 cơ sở lưu trú.
  • Xây dựng lộ trình đào tạo chuẩn hóa nhân lực theo chuẩn nghề du lịch quốc gia đến năm 2015 và tầm nhìn 2020.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa mối quan hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch địa phương thông qua chuỗi số liệu thực nghiệm tin cậy. Nghiên cứu mở ra hướng đi khoa học giúp tỉnh Quảng Bình nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến trong giai đoạn hội nhập. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các chương trình liên kết đào tạo theo lộ trình 2014 - 2020 nhằm tối ưu hóa năng suất lao động và thúc đẩy kinh tế du lịch phát triển bền vững.