Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng Chương 2: Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dich vụ cho vay khách hàng cá nhân tại Vietcombank Dung Quất Chương 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân tại Vietcombank Dung Quat 6. Tổng quan về tài liệu Một số nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng nói chung và sự hài lòng của. khách hàng đối với dịch vụ cho vay KHCN tại ngân hàng thương mại có thê kẻ đến như sau Bài nghiên cứu "Xây dung thang do chat lượng dich vụ trong lĩnh vực ngân hang” được xuất bản năm 2010 của tác giả Trương Bá Thanh và Lê Văn Huy. Nghiên cứu vận dụng mô hình SERQUAL để xây dựng thang đo chất lượng trong lĩnh vực ngân hàng.
Số liệu được thu thập thông qua phiếu khảo sát khách hàng. Kết quả tác giả đã xây dựng 06 thang đo thành phân chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng bao gồm: (1) Thành phần đồng cảm và đáp ứng, (2) Thành phần đảm bảo, (3) ‘Thanh phan tin cậy về quá trình cung cắp dịch vụ, (4) Thành phần hữu hình, (5) Thành phân tin cậy về lời hứa với khách hàng, (6) Thành phần mạng lưới chỉ nhánh. Do đó ngân hàng phải tích cực khuyến khích nhân viên phục vụ khách hàng tốt hơn thông, qua 6 nhân tố nên trên để nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng tiền gửi tiết kiệm. Bài viết “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng sản phẩm địch vụ của doanh nghiệp”, đăng trên tạp chí tài chính (nhóm tác giả nghiên cứu gồm: TS.
Phạm Hùng Cường - Đại học Ngoại thương, PGS. Nguyễn Xuân Minh - Đại học Ngoại thương, TS. Võ Hoàng Nhân - Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, 2019). Để đánh giá sự hài lòng của khách hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, nhóm tác giả của nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát trực tiếp, thông.
cqua nghiên cứu đã tìm ra được 07 yếu. ỗ ảnh hưởng đến sự hải lòng của khách hàng. đối với chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách nâng cao sự hài lòng về chất lượng dịch vụ đối với doanh nghiệp trong thời gian tới Bài viết “Đo lường mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ cho vay tai VIB Bình Dương” của tác giả TS. Lê Tắn Phước ~ ĐH kinh tế TP HCM.
Bằng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp các khách hàng đã, đang sử dụng dịch vụ cho vay tại Ngân hàng VIB chỉ nhánh Bình Dương, sử dụng phương pháp hồi quy đa biến, nghiên cứu này đã tìm ra được 06 yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng vay vốn tại Ngân hàng là: phương tiện hữu hình, độ tin cậy, sự cảm thông, kỹ năng, độ tiếp cận, sự cạnh tranh. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng. dịch vụ cho vay tại VIB Bình Dương thời gian tới. Bài nghiên cứu: “Chát lượng dich vu cho vay tiêu dùng của các Ngân hàng thương mại cổ phân trên địa bàn thành phố Hà Nội ” của TS.
Phùng Việt Hà Trường ĐH Thương Mại được xuất bản năm 2020. Tác giá đã nghiên cứu và xây dựng thang, đo chất lượng dịch vụ và đề xuất mô hình gồm 07 yếu tố ảnh hưởng: phương tiện hữu hình, sự đồng cảm, năng lực phục vụ, sự đáp ứng, độ tin cậy, giá cả, sự thảo mãn. khách hàng. Từ đó đã đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dich vụ đối với cho vay tiêu dùng 'Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đều đi theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau, có cả định tính và định lượng nhằm đo lường sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ cho vay KHCN.
Các nghiên cứu có sự tham khảo các biến trong mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1988) và có bỗ sung thêm các nhân tố khác đề phù hợp với đặc thù về dịch vụ vay vốn của ngân hàng thương mại. Do đó, nghiên cứu. của tác giả cũng sẽ kế thừa các thang đo trong các nghiên cứu này. Hơn nữa, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về đánh giá sự hài lòng.
của khách hàng đối với dịch vụ cho vay KHCN tại Vietcombank Dung Quất. Do đó, đề tài nghiên cứu của tác giả là độc lập và không trùng lặp với các nghiên cứu đã công bố, CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE SU’ HAI LONG CUA KHACH HANG 1. Tổng quan về dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 1. Khái niệm về dịch vụ Theo Philip Kotler định nghĩa: “dich vụ là bắt ÿ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia.
Trong đó đối tượng cung cắp nhắt định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bắt kỳ quyên sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thẻ hoặc không cân gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”, Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật giá năm 2012: “địch vụ là hang hoa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hê tách rời nhau, bao gôm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật ” Theo từ điển Wikipedia: “địch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ. tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dich vụ là sự cung ứng để đáp ứng như cầu niu: dich vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ. và mang lại lợi nhuật Như vậy, qua các khái niệm trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm, bản chất cua dich vụ như sau: ~ Dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô.
hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. ~ Dịch vụ gắn liền với hiệu suấU thành tích bởi mỗi dịch vụ đều gắn với mục. tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng. Hiệu suất ở đây chính là những, tiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà khách hàng nhận được sau khi sử dụng dich vu.
~ Nó là một quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước khác nhau. Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêm nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm. Khái niệm sự hài lòng của khách hàng Theo Spreng, MacKenzie và Olshavsky (1996) định nghĩa: “sự ñài lòng của. khách hàng được xem là nền ting trong khái niệm của marketing vé việc thỏa mãn như cầu và mong ước của khách hàng”.
Sự hài lòng của khách hàng tuy có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau. Parasuraman và cộng sự (1988) định nghĩa: “sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong doi”. ‘Theo Zeithaml and Bitner (2000): “sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi cia ho”. ‘Theo Philip Kotler (2000): sự hài lòng của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người nguôn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với kỳ vọng của người đó.
Trong đó kỳ vọng được xem là ước mong hay mong đợi của con người. Nó bắt nguôn từ nhu câu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bên ngoài nhự quảng cáo, thông tin truyền miệng từ bạn bẻ, gia đình ". Theo Kotler va Keller (2006) tự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt ngun từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó. Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ sau: Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn; Nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn; Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú ” ‘Theo Kano (1984) cho rằng: “mỗi khách hàng đêu có 03 cắp độ như cầu: như.
câu cơ bản, nhụ câu biểu hiện, nhu câu tiém ẩn”. ~ Như cầu cơ bản: Đây là loại nhu cầu không bao giờ được biểu lộ, nếu đáp ứng loại nhu cầu này sẽ không mang đến sự hài lòng của khách hàng, tuy nhiên nếu. ngược lại khách hàng sẽ không hài lòng. ~ Nhu câu biểu hiện: Đây là loại nhu cầu mà khách hàng biểu lộ sự mong.
muốn, chờ đợi đạt được. Theo ông, giữa sự hai long của khách hang va sự đáp ứng được nhu cầu này có mối quan hệ tuyến tính. ~ Nhu câu tiềm ẩn: Đây là loại nhu cầu mà khách hàng không đòi hỏi, tuy nhiên nếu có sự đáp ứng từ phía nhà cung ứng dịch vụ thì sự hài lòng khách hàng sẽ tăng lên. Tuy vậy, sự hài lòng của khách hàng được xem xét bởi lý thuyết thông dụng là lý thuyết “Kỳ vọng - Xác nhận”.
Lý thuyết được phát triển bởi Oliver (1989) và được dùng đề nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng của các dịch vụ hay sản phẩm của một tô chức. Lý thuyết đó bao gồm hai quá trình nhỏ có tác động độc lập đến sự hài lòng của khách hàng: Kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ sau khi đã trải nghiệm. Theo lý thuyết này có thể hiểu sự hài lòng của khách hàng là quá trình như sau ~ Trước hết, khách hàng hình thành trong suy nghĩ của mình những kỳ vọng về những yếu tổ cấu thành nên chất lượng dịch vụ mà nhà cung cắp có thé mang lai cho họ trước khi các khách hàng quyết định mua. ~ Sau đó, việc mua dịch vụ và sử dụng dịch vụ đóng góp vào niềm tin khách.
hang về hiệu năng thực sự của dịch vụ mà họ đang sử dụng.