CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VE CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ, CÁC YÊU TÔ ANH HUONG DEN CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ NGAN HANG ĐIỆN TỬ 1.CO SO LY THUYET VE DICH VU VA CHAT LUQNG DICH VU VA CÁC YEU TO ANH HUONG DEN CHAT LƯỢNG DỊCH VU 1. Định nghĩa Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với con người ngay từ những. thời cỗ đại. Khái niệm "chất lượng” xuất phát từ Nhật Bản và trở thành yếu tố quan tâm hàng đầu của những ngành SX vật chất vừa hướng đền tính hữu dụng và tiện lợi của SP, vừa để giảm thiểu những lãng phí trong qui trình SX.
Nhiều thuyết QLCL nỗi tiếng ra đời như QLCL toàn diện (TQM - Total Quality Management), thuyét cai tién (Kaizen),.duge cac nha SX nỗi tiếng của Nhật Bản nhu tap doan Toyota, Honda,. áp dụng để hướng đến sự hoàn thiện về chất lượng SP bằng cách làm đúng ngay từ những chỉ tiết đầu tiên — “Do the right “thing at“ the first”. Những lý thuyết này được xem như một sự. đổi mới trong phong cách quản lý và đã nhanh chóng được lan truyền và ứng dụng ở những khu vực có nền kinh tế năng động và phát triển thế giới.
Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000: 2000 đã đưa ra định nghĩa: Chất lượng là khả năng tập hợp các tính của một SP, hệ thống hay quá trình đề đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm của chất lượng như: ~ Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một SP vì lý do nào. đó mà không được tiếp nhận thì bị coi là chất lượng kém, mặc dù trình độ công. 10 nghệ đề chế tạo ra SP đó có thẻ rất hiện đại.
~ Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn én, ng nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. ~ Khi đánh giá chất clượng của một đối tượng, ta chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. này không chỉ từ phía KH mà còn từ các bên có liên quan như các yêu cầu mang. tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.
~ Nhu cầu có thể được công bố rõ rằng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, KH chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong quá trình sử dụng. Quan niệm về chất lượng đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: + Quality is conformance to standards, specifications or requirements (Crosby, 1979) + Quality is defined as being about value (Feigenbaum, 1983) + Quality is fitness for use (Juran, 1989) + Quality as excellence (Peters and Waterman, 1982) + Quality is concerned with meeting or exceeding customer expectations (Parasuraman et al., 1985) + Quality means delighting the customer (Peters, 1989) 1. Lịch sử phát triển của chất lượng 'Có thể nói lịch sử của chất lượng bắt nguồn từ người Ai Cập cô đại, những, người tạo nên các SP chất lượng là những bức tranh trên tường và kim tự tháp vĩ đại. Khái niệm bảo đảm chất lượng, vẫn thường gắn liền với một số dạng.
thức đo lường và hoạt động kiểm tra, được những người thợ thủ công lành nghề, những người hoạt động như cả nhà SX va kiểm tra, duy trì suốt thời Trung Cổ ở Châu Âu và tiếp tục mãi đến đầu thế kỷ 20. Trong suốt những nim dau thé i kỷ, các nha quan ly va giám sát SX trong những nhà máy lớn chịu trách nhiệm đáp ứng những yêu cầu về chất lượng và họ cũng thực hiện bảo đảm chất lượng liên quan đến công việc của mình, hay “tự kiểm tra’. Trong những cửa hiệu nhỏ, người chủ, đồng thời cũng là thợ cả, chịu trách nhiệm lập kế hoạch công việc, bao gồm cả chất lượng, huấn luyện công nhân và kiểm tra công việc của họ nhằm đảm bảo chất lượng SP làm ra. Những năm đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự khởi đầu của một kỷ nguyên về năng suất lao động được thúc đẩy bởi một trào lưu có tên là quản lý khoa học.
do nhà kỹ trị người Mỹ Erederiek W. Taylor lập ra, Taylor đưa ra sáng kiến của mình về một triết lý SX mới, tên là Hệ thống Taylor, dẫn đến sự thay đổi cơ bản trong thực tiễn quản lý, đó là sự tách rời chức năng hoạch định khỏi thực hiện. Cụ thể, Taylor giao chức năng hoạch định cho các nhà quản lý và kỹ sư trong khi các giám sát và công nhân bị giới hạn với chức năng thực hiện công. Các tiếp cận quản lý này đã dẫn đến thành công to lớn trong việc nâng, cao năng suất lao động, và được các công ty Hoa Kỳ áp dụng rộng rãi.
dẫn đến một thực tế là với việc phân tách công việc thành những nhiệm vụ cụ thể và tập trung nâng cao hiệu quả, việc bảo đảm chất lượng chỉ là trách nhiệm của các nhà kiểm tra và vì thé kiểm tra là PPkiểm soát chất lượng hay được sử dụng nhất. Trong thập niên 1920, Henry Ford ở công ty Ford Motors phát triển nhiều nguyên lý QTCL và viết lại trong cuốn sách của ông có tên là Cuộc đời và công việc của tôi mà người Nhật Bản xem như *sách gối đầu giừơng' của họ. Với việc giới thiệu PP SX hàng loạt trên hệ thống dây chuyền SP của Ford Motors, thành tựu đạt được không chỉ là chỉ phí giảm mà còn là một vài thất bại về chất lượng do một số lãng phí trong quá trình SX. Trong giai đoạn này, các phòng kiểm tra trung tâm phát triển thành những phòng chất lượng riêng.
biệt và nhiều nhà quản lý cắp cao chuyền sự quan tâm của mình sang số lượng. và hiệu quả đầu ra của SX. 12 uả là, họ kém chuẩn bị phó với khủng hoảng về chất lượng sản phẩm do kiến thức it ỏi của mình vẻ chất lượng. Chiến tranh thế giới II có ảnh hưởng sâu sắc đến cách tiếp cận của người Mỹ về QLCL.
Khi Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh thế giới II vào cuối thập niên 1930, những yêu cầu về chất lượng. đối với hàng hóa quân sự được chú trọng với việc giới thiệu những khóa đào tạo miễn phí về sử dụng các công cụ thống kê, đặc biệt là các biểu đồ kiểm soát và bảng lấy mẫu dựa trên lý thuyết xác suất. Hệ quả là, kiểm soát chất lượng sử dụng thống kê trở nên nỗi tiếng và dần được chấp nhận trong các nghành SX. Sau Chiến tranh thế giới Il, Hoa Kỳ thiếu trim trong cae mat hàng dân sự do hàng hóa quân sự nhận được ưu tiên trong việc phân bổ nhà xưởng, nguyên vật liệu, nhân công và các loại dịch vụ trong suốt thời chiến.
Hệ quả là, các nhà quản lý cắp cao chỉ quan tâm đến SX thay vì chất lượng và họ cũng ít quan tâm. đến cải tiến chất lượng hay ngăn ngừa lỗi trong SX, và chỉ dựa phần lớn vào kiểm tra đại loạt. Trái lại với Hoa Kỳ, Nhật Bản, nước thua trận trong Chiến tranh thế giới II, đã nỗ lực đạt được những thành tựu lớn thông qua thương mại Trước đây, SP làm tại Nhật có tiếng xấu là rẻ, độ tin cậykém và có chất lượng thấp, và vì vậy các giám đốc người Nhật sẵn sàng thực hiện những thay đổi cơ bản nhằm cải thiện danh tiếng cho SP của họ. Nhằm đạt được thành công về CLSP, người Nhật thực hiện một chương trình tông hợp với các hoạt động đồng thời.
Một mặt, họ gửi người ra nước ngoài để học cách ngoại quốc gặt hái thành. công về chất lượng và chuyên những kinh nghiệm này thành tiếng Nhật để các công ty trong nước áp dụng. Mặt khác, thông qua Keidanren (Liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật Bản) và IUSE (Công đoàn các kỹ sư và khoa học gia Nhật Bản) họ mời 2 chuyên gia Hoa Kỳ là W. Juran giảng dạy về cải tiến chất lượng.
Hai nhà tư vấn này không chỉ giới thiệu các kỹ thuật kiểm soát chất lượng sử dụng thống kê cho người Nhật mà còn chú trọng vào. quản trị cấp cao thay vì chỉ các chuyên gia chất lượng như một phần trong. 13 chương trình đào tạo của họ. Với các bài giảng của Deming và Juran và sự hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao, người Nhật nhanh chóng nhận ra lợi ích của việc cải tiến chất lượng và đưa chất lượng vào toàn bộ tô chức của họ, cũng như phát triển văn hóa liên tục cải tiến (hay Kaizen trong tiếng Nhật).
Mặc dù phải mắt khoảng 20 năm thì CLSP Nhật mới được cải tiến, đến thập niên 1970 các công. ty Nhật Bản đã gặt hái những mùa vụ chất lượng bội thu với những SP nỗi tiếng về chất lượng cao của mình. Hệ quả là, SP Nhật đã thâm nhập sâu vào các thị trường phương Tây, và đồng thời tạo ra sự quan tâm đáng kể trên thế giới về phương thức QTCL của Nhật Bản. 'Sự thần kỳ? của người Nhật do cuộc cách mạng về chất lượng tại Nhật Bản tạo ra được công nhận ở cả các lĩnh vực SX&DV.
Với bài học từ Nhật Bản, nhận thức vé chat lượng đã phát triển nhanh chóng ở phương Tây trong suốt những thập kỷ qua, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Nhiều trường và cơ sở giáo dục đại học đã đưa vào chương trình giảng dạy các hệ thống. quản lý của người Nhật, chẳng hạn nhu Kaizen umbrell ching thực sự đóng góp. tất đáng kể vào kho tàng kiến thức về hiểu biết và cải tiễn chất lượng.
Tầm quan trọng của chất lượng Chất lượng hiển nhiên có tằm quan trọng chiến lược đối với HDKD của DN. Chất lượng chính là điểm để tạo ra sự khác biệt cho một SP từ những SP cạnh tranh khác. Nó cung cấp cho DN một lợi thế cạnh tranh bền vững va giúp tạo ra lợi nhuận trên mức trung bình. Một SPhay dịch vụ có chất lượng cao hon đối thủ cạnh tranh có thể giúp gia tăng thị phần của DN và cải thiện nhận thức của KH về SP hay DV ấy.
Chất lượng được mô tả là 'yếu tố quan trọng nhất dẫn đến tăng trưởng kinh tế của DN trên các thị trường thế giới". Ngày nay, không có gì để nghi ngờ rằng chất lượng SP&DV là yếu tố cơ bản của sức khỏe KD, tăng trưởng và tính bề vững kinh tế. John Young, Chủ tịch của HewlettPackard tig phat biểu rằng *Trong môi trường cạnh tranh ngày nay, bỏ qua vấn đẻ chất lượng cũng đồng nghĩa với tự sát.