chương 1, phân tích đánh giá thực trạng trong.ở chương 3, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động huy động vốn tiền gửi khách hàng cá nhân tại ngân hàng| 17] Như chúng ta đã biết, dich vụ là một hàng hoá đặc biệt, nó có những nét nỗi bật riêng mà hàng hoá hữu hình không có. Sản phâm dịch vụ ngân hàng cũng vậy, nó có những đặc điểm nỗi bật và những đặc điểm này sẽ tác động. rat lớn đến việc ứng dụng Marketing trong ngân hàng. Tác giả phân tích thực trạng chính sách marketing chỉ thông qua số liệu thực tế, không thông qua khảo sát điều tra do vậy nên thực trạng về chất lượng dịch vụ không được thể hiện rõ qua các ý kiến của khách hàng.Từ những giá trị tham khảo của các tài liệu, công trình nghiên cứu cùng với thực tế công tác marketing huy động tiền gửi khách hàng cá nhân tại BIDV Chỉ nhánh Phố Núi là những cơ sở lý luận và thực tiễn giúp tác giả đi sâu và làm rõ thực trạng chính sách marketing.
trong huy động vốn tiền gửikhách hàng cá nhân tại chỉ nhánh và đưa ra giải pháp mà ngân hàng cần thực hiện để hoàn thiện chính sách marketing trong. huy động vốn tiền gửi cá nhân tại BIDV Chỉ nhánh Phố Núi CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MARKETING DICH VU 1.1, DICH VỤ VA VAI TRO MARKETING DICH VU 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một lĩnh vực kinh tế lớn nhất trong một xã hội hiện đại. Xã hội càng phát triển, trình độ chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội cảng cao, lĩnh vực dịch vụ càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.
Tuy nhiên, về khái niệm, đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau, chẳng hạn: Tác giả Trần Minh Đạo, viết trong cuốn Giáo trình marketing căn bản: *Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ich mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyên sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất ”. Quan điểm của Lưu Văn Nghiêm: “Dịch vụ là một quá trình chính sách bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mỗi quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đôi quyền sở hữu. “Trong nghiên cứu này, dich vụ được hiểu theo cách mà Phillip Kotler đã định nghĩa “Dịch vụ là một chính sách hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở.
Đặc điễm dịch vụ: Dịch vụ thuần túy có 5 đặc trưng cơ bản phân biệt với hàng hóa thuần. túy là: Tính vô hình: Hàng hoá có hình dáng, kích thước, màu sắc. Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình 10 không. Ngược lại, dich vu (DV) mang tinh vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua DV.
Tính không chia tách được giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ: Nhà cung ứng dịch vụ và khách hàng phải cùng hiện diện khi việc giao dịch tiến hành. Nghĩa là khách hàng cũng là một phần của sản phẩm Tính không ỗn định vẻ chất lượng: Chất lượng dịch vụ biến động nhiễu, vì nó tùy thuộc và việc ai cung ứng, khi nào và ở đâu. Tính không thể lưu kho: Dịch vụ không thể lưu kho được. Một đêm nghỉ chỉ nhánh BIDV Phố Núi không bán được, thì nhà kinh doanh chịu lỗ đêm nghỉ đó, Tính không thẻ chuyển quyền sở hữu: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua.
Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng. Igi ich ma DV mang lai trong mét thời gian nhất định mà thôi [7] c. Hanh vi quyết định mua dịch vụ của khách hàng Trong mỗi quan hệ mua bán giữa khách hàng với doanh nghiệp thì hành vi của khách hàng được giới hạn trong cách tiếp cận là hành vi mua hàng. Chính vì vậy, thuật ngữ hành vi khách hàng được sử dụng và được coi như đồng nghĩa với hành vi mua hàng của khách hàng.
Theo hiệp hội Marketing Mỹ, hành vi khách hàng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yế tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng. cáo, thông tin về giá cả, bao bì sản phẩm.
đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng. Theo Phillip Kotker và Levy, hành vi khách hàng là những hành vi cụ i thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ. sản phẩm hay dịch vụ. Nhu vay, hành vi khách hàng là toàn bộ quá trình diễn biến cũng như cân nhắc của khách hàng từ khi họ nhận biết có nhu cầu vẻ hàng hóa hay dịch vụ nào đó cho đến khi họ lựa chọn mua và sử dụng những hàng hóa hay dịch vụ này.
Hành vi khách hàng là những suy nghĩ và cảm nhận của khách hàng. trong quá trình mua sắm và tiêu dùng, có bản chất năng động tương tác và bao. gồm các hoat động mua sắm, sử dụng và xử lý sản phẩm. Hành vi khách hàng bao gồm những hành vi có thể quan sát được như số lượng đã mua sắm, mua khi nào, mua với ai, những sản phẩm đã mua đã được dùng như thế nào; và những hành vi không thể quan sát được như những giá trị của khách hàng như.
những nhu cầu và sự nhận thức của cá nhân, những thông tin mà họ đã ghỉ nhớ, 1. Marketing dich vụ a. Khái niệm về marketing dịch vụ “Marketing dịch vụ là sự thích nghỉ lý thuyết hệ thống vào thị trường dich vu, bao gồm: quá trình thu nhận, tìm hiễu, đánh giá và thỏa mãn như cầu của thị trường phát triển bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tô chức sản xuất, cung ứng và tiêu ding dich vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong.
sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ, nhu cầu của người tiêu dùng và chính sách của đối thủ cạnh tranh trên nền táng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội ” [7] Marketing được xây dựng dựa trên các lý thuyết chung của Marketing, và bản chất của Marketing dịch vụ không nằm ngoài bản chất của Markting. Hoạt động Marketing dịch vụ diễn ra trong toàn bộ quá trình từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng dịch vụ. Quá trình thực hiện sự thích nghỉ của các công cụ bên trong với những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp chính là quá 12 trình thực hiện chương trình Marketing. Có thể kẻ đến các yếu tố bên trong.
doanh nghiệp như: sản phẩm dịch vụ, phí dịch vụ, con người, quá trình dịch vụ, hoạt động giao tiếp dịch vụ, và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, Nhà nước và các thể chế luật pháp, công. Khi thực hiện một chương trình Marketing cần chú ý đến việc nhận biết các yếu tố về chính sách Marketing, thực hiện khả năng kiểm soát của doanh nghiệp, nhận biết môi trường bên ngoài doanh nghiệp đồng thời tiếp cận, thích nghỉ giữa nguồn lực bên trong doanh nghiệp với các lực lượng bên ngoài doanh nghiệp. Các chương trình Marketing cần phải chỉ tiết, phù hợp với những biến đổi của các yếu tố thị trường phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để tiếp cận hơn nữa các cơ hội trên thị trường. Thực chất hoạt động cung ứng dịch vụ diễn ra theo quá trình bao gồm nhiều dịch vụ cụ thể trong phạm vi không gian và thời gian rộng lớn, tạo thành một hệ thống dich vụ tổng thể được khách hang tiếp nhận và sử dụng trực tiếp.
b, Vai trò Marketing dịch vụ « Đối với doanh nghiệp dịch vụ : Vì những tính chất đặc trưng riêng của dịch vụ, nên việc áp dụng các chiến lược Marketing dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng, giúp doanh nghiệp tồn tai lâu dài vững chắc và phát triển trên thị trường, vì nó cung cắp khả năng. thích ứng với những thay đổi thị trường và môi trường bên ngoài Marketing dịch vụ cung cắp thông tin về doanh nghiệp ra bên ngoài và giúp phản hồi thông tin về doanh nghiệp để qua đó nghiên cứu phát triển sản phẩm dịch vụ, cung cấp dịch vụ khách hàng tốt hơn nâng cao vị thế cạnh tranh. 13 Marketing dịch vụ là chức năng quản trị quan trọng vì nó đóng vai trò kết nối hoạt động của các chức năng khác với thị trường, nó định hướng hoạt động cho các chức năng khác trong tổ chức dịch vụ như : nhân sự, tài chính v. theo chiến lược đã đề ra mang lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp.
« Đối với khách hàn; Marketing dịch vụ sẽ giúp thỏa mãn nhu cầu mong đợi của khách hàng, về sản phẩm dịch vụ, các giá trị công thêm, dịch vụ khách hàng.v 'Khách hàng không thể sử dụng dịch vụ nếu không biết rõ thông tin về nó, giá bao nhiêu, lợi ích thế nào.Phần lớn các tính hữu ích này được sáng tạo bởi các hoạt động Marketing dịch vụ. Một số chuyên gia nhận định rằng để đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước thì căn cứ vào sự phát triển công nghiệp dịch vụ tại nước đó hay. còn gọi là “ngành kinh tế mềm ”(SOFTOMICS) và để đánh giá chất lượng cuộc sống thì tìm hiểu xem mức độ thỏa mãn nhu cầu dịch vụ của nước đó đến đâu. Marketing dịch vụ sẽ giúp cho ngành dịch vu phat triển, cung cắp một mức sống để đạt được những phúc lợi như mong muốn, luôn tìm hiểu nhu cầu và thỏa mãn hơn mức mong đợi 1.
NOI DUNG XAY DUNG MARKETING DICH VU 1. Phân tích môi trường marketing. Môi trường marketing là tông hợp tắt cả các yếu tố, những lực lượng bên. trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến chính sách hoặc những quyết định marketing có liên quan đến khả năng thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng.