CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING SẢN PHÁM DỊCH VỤ 1. KHAI QUAT CHUNG VE MARKETING DICH VU VA VAI TRO CUA MARKETING DICH VU TRONG LINH VUC NGAN HANG 1. Khái niệm về dịch vụ và marketing dịch vụ a) Dịch vụ Dịch vụ là sản phẩm vô hình dạng, không thể nhận biết bằng xúc giác, được cung cấp nhằm thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn của khách hàng. Dịch vụ là một loại hình sản phẩm có những đặc điểm: Tính vô hình; Tính đồng thời, không thể tách biệt; Tính không ồn định và khó xác định khói lượng.
b) Marketing dịch vụ Marketing dịch vụ là tổng hợp các phương pháp quản trị, các tiến trình hoạch định, tổ chức và thực hiện một cách có hệ thống các hoạt động như: nghiên cứu, tìm hiểu, phát hiện, dự đoán xu hướng của thị trường. Từ đó thông qua các chính sách, giải pháp phù hợp với các mục tiêu chiến lược kinh doanh của tổ chức, hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu bằng cách cung ứng những giá trị vượt trội hơn so với dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ tín dụng bán lẻ trong ngân hàng, a) Khái niệm dịch vụ ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có quy định dịch vụ ngân hàng “Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Dịch vụ ngân hàng là tất cả những dịch vu tài chính đa dạng và phong phú được ngân hàng thương mại cung cấp tới tượng khách hang là tổ chức và cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng và sản xuất kinh doanh.
Dịch vụ ngân hàng theo Luật tổ chức tín dụng được chia thành 4 mảng: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác. Các dịch vụ bán lẻ của Ngân hàng thương mại bao gồm nhiều mảng dịch vụ tài chính đa dạng và phong phú, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, học viên xin phép chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích về: Tiến trình xây dựng chính sách marketing đối với dịch vụ tín dụng bán lẻ trong ngân hàng. b) Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ tín dụng bán lẻ Dịch vụ tín dụng bán lẻ là hình thức mà ngân hàng cấp một khoản vốn vay cho các đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình để sử dụng vào các mục đích và thời gian theo thỏa thuận, đối tượng vay vốn có nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi. Dịch vụ tín dụng bán lẻ có nhiều hình thức như: cho vay ngắn hạn, cho.
vay trung dài hạn, cho vay có tài sản đảm bảo, không có tài sản đảm bảo, cho vay theo mục đích và các hình thức khác. Dịch vụ tín dụng bán lẻ bao gồm các loại sản phâm đa dạng như: cho vay tiêu dùng, cho vay xây dựng sửa chữa hoặc mua nhà ở, cho vay mua ô tô, cho. vay du học, cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay đầu tư tài sản, cho vay cầm có số tiết kiệm, cằm cố giấy tờ có giá, thẻ tín dụng. Dịch vụ tín dụng bán lẻ có một số đặc điểm: số lượng khách hàng rắt lớn, số lượng khoản vay cũng rắt lớn, tuy nhiên giá trị khoản vay hầu hết là nhỏ, nhu cầu của khách hàng hầu như mang tính thời điểm, tuy nhiên rủi ro được chia sẻ và phân tán.
Tín dụng bán lẻ đòi hỏi mức độ chuyên môn hóa cao, chỉ phí quản lý, nghiên cứu và khai thác thị trường khá lớn, tuy nhiên lại phân tán được rủi ro và biên độ lợi nhuận cũng tốt hơn. Vai trò của Marketing trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng Marketing là công cụ kết nối hoạt động của ngân hàng thương mại với thị trường, giúp tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và hoàn thiện mối quan hệ trao đổi giữa khách hàng và ngân hàng trên thị trường. Marketing có vai trò hỗ trợ cho ngân hàng trong quá trình xây dựng chính sách quảng cáo, tiếp thị phù hợp, xác định những loại sản phẩm dịch vụ mà khách hàng có nhu cầu sử dụng và xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng hợp lý giúp thu hút và giữ chân khách hàng hiệu quả. Marketing góp phần tạo vị thế cạnh tranh của ngân hàng bằng cách: tạo ra tính độc đáo của sản phẩm dịch vụ, giúp khách hàng trải nghiệm để cảm nhận được sự khác biệt đó và duy trì lợi thế về sự khác biệt, đồng thời có biện pháp dé ngăn chặn sự sao chép của các đối thủ cạnh tranh.
Marketing giúp ngân hàng khai thác thị trường bán lẻ một cách hiệu quả, giúp tối ưu chỉ phí, tối đa hoá lợi nhuận và góp phần giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa khách hàng, nhân viên và ngân hàng. TIỀN TRÌNH XÂY DỰNG CHÍNH SACH MARKETING DICH VỤ 1. Phân tích môi trường marketing, a) Môi trường vĩ mô ~ Môi trường nhân khẩu học: là những van đề về dân số, cấu trúc tuổi, cơ cấu lao động, địa lý, mức thu nhập. ~ Môi trường kinh tế: là bản chất và định hướng của nền kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động trong đó.
Một số nhân tố quan trọng như: tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ lệ lạm phát. - Méi trường khoa học - công nghệ: sự phát triển lĩnh vực khoa học công nghệ ở thời đại 4.0, các doanh nghiệp bắt đầu áp dụng các công nghệ tiên tiến như AI, Big Data, Machine Learning, tự động hoá. lẻ tìm hiểu nhu cầu khách hàng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đáp ứng thoã mãn nhu cầu đó. ~ Môi trường văn hóa xã hội: các yêu tô về xã hội, truyền thống dân tộc, tôn giáo, lối sống, thói quen tiêu dùng, văn hoá địa phươn; ~ Môi trường chính trị - pháp luật: thê chế chính trị, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống quản lý hành chính nhà nước, pháp luật.
~ Môi trường toàn câu: bao gồm tắt cả các thị trường trên toàn cầu mà doanh nghiệp có liên quan, các sự kiện địa chính trị, kinh tế tế quan trọng, các thể chế và văn hóa trên thị trường toàn cầu. b) Môi trường vi mô Là những lực lượng bên ngoài có tác động qua lại, trực tiếp tới doanh nghiệp và những khả năng phục vụ khách hàng của doanh nghiệp. Bao gồm những lực lượng như: bản thân doanh nghiệp, các nhà cung ứng, các nhân tố trung gian marketing, các khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các giới công chúng trực tiếp. ~ Bản thân doanh nghiệp: bao gồm: năng lực tài chính, cơ sở hạ tầng vật chất, sản phẩm, giá cả, hệ thống kênh phân phối, hệ thống công nghệ thông tin, kiểm tra kiểm soát, yếu tố con người.
tất cả các bộ phận phòng ban trực thuộc như: ban lãnh đạo, bộ phận sản xuất, bộ phận tài chính, bộ phận chăm sóc khách hàng, khối sản xuất, phòng ban hành chính - nhân sự. cả những bộ phận này đều có liên quan với nhau và hình thành môi trường nội bộ của doanh nghiệp. ~ Nhà cung cấp: Các nhà cung cấp là những cơ sở và cá nhân kinh doanh cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho hoạt động sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp lẫn các đối thủ cạnh tranh. ~ Đối thủ cạnh tranh: là các đối thủ cạnh tranh và các yếu tố đến từ các đối thủ cạnh tranh như: chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối và chính sách xúc tiến bán hàng.
~ Khách hàng: mọi chính sách marketing đều cần tìm hiểu, phân tích các đặc điểm của khách hàng như: khách hàng là ai, họ ở đâu, thu nhập như thế nào, nhu cầu, thói quen, hành vi sử dụng dịch vụ. ~ Công chúng: Chính sách marketing doanh nghiệp đều chịu tác động từ các yếu tố công chúng như: giới tài chính, truyền thông, mạng xã hội, công quyền, địa phương. Xác định mục tiêu của Marketing. Xác định mục tiêu marketing là xác định kết quả kinh doanh kỳ vọng đạt được trong ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn.
Mục tiêu marketing cần được cụ thể hoá, lượng hoá, thời gian thực hiện, tính khả thi, đảm bảo phủ hợp với chiến lược kinh doanh và mục tiêu của doanh nghiệp. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu a) Phân đoạn thị trường. Một doanh nghiệp hoạt động trên thị trường rộng lớn thì sẽ không thể phục vụ hết tắt cả các nhóm khách hàng trên thị trường đó. Doanh nghiệp sẽ hoạt động.
hiệu quả hơn khi chọn lựa tập trung một phân khúc thị trường phù hợp với nguồn lực và thế mạnh của mình. Vậy doanh nghiệp cần tìm ra phân khúc thị trường phù hợp để có thể tập trung khai thác và phục vụ một cách hiệu quả. Phân khúc thị trường là cách thức phân chia thị trường tổng thể thành các đơn vị nhỏ có đặc điểm khác biệt nhau (các đoạn, khúc). Mỗi đơn vị phân đoạn/phân khúc thị trường là tập hợp của một tệp khách hàng có sự tương đồng về nhu cầu, đặc điểm hoặc hành vi tiêu dùng, có sự phản ứng tương tự nhau đối với các tác động từ phía doanh nghiệp.
10 Doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố khác nhau để phân khúc/ phân đoạn thị trường như: địa lý, nhân khâu học, tâm lý, hành vi. Việc phân khúc/ phân đoạn thị trường cũng cần đáp ứng những yêu cầu như: ~ Đo lưởng: Quy mô thị trường và sức mua sắm của các phân đoạn thị trường phải đo lường được. ~ Øuy mô: Nhu cầu ở từng phân khúc/ phân đoạn thị trường phải có quy mô đủ lớn để doanh nghiệp có thể đầu tư nguồn lực khai thác thị trường tương xứng. ~ Tiếp cận: là phân khúc/ phân đoạn thì trường mà doanh nghiệp có khả năng.
tiếp cận, khai thác được và phục vụ được phân đoạn thị trường đó. ~ Sự khác biệt: Các phân khúc/ phân đoạn thị trường khác nhau phải có sự khác biệt trong vấn đề phản ứng với các công cụ marketing của doanh nghỉ: - Tính khả thỉ: doanh nghiệp phải có đủ các nguồn lực phù hợp để thác và phục vụ cho phân khúc/ phân đoạn thị trường đó. b) Lựa chọn thị trường mục tiêu Thị trường mục tiêu là thị trường tập hợp các nhóm khách hàng có cùng nhu cầu, đặc tính, thói quen tiêu dùng.