CHƯƠNG 1:CO SO LY LUAN VE CAM KET CUA NHÂN VIÊN VỚI TÔ CHỨC 1. Khái niệm cam kết của nhân viên với tổ chức Có rất nhiều khái niệm về cam kết của nhân viên với tô chức. Trên đây là một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu: Theo Macey, Schneider, Barbara và Yong (2009), cam kết của nhân viên với tổ chức được cho là một trong những nhân tố chủ chốt để đạt được năng suất làm việc tốt; và những nhân viên cam kết sẽ trung thành và làm việc với tổ chức lâu hơn. Dén thời điểm hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cam kết của nhân viên với tổ chức được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu và cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về cam kết của nhân viên với tổ chức.
Trong nghiên cứu của Kahn (1990), ông đưa định nghĩa về cam kết của nhân. viên với tổ chức là sự đóng góp của nhân viên cho công việc hiện tại, khi cam kết, nhân viên sẽ đồng góp sức lực, trí lực và cảm xúc trong quá trình lảm việc. “Theo Schaufeli và Bakker (2003), cam kết của nhân viên với tổ chức đó là sự trái ngược của lý thuyết về sự kiệt sức của nhân viên - điều này được đề cập trong. nghiên cứu của Maslach và Leiter (1997), cam kết của nhân viên với tổ chức bao.
gồm các yếu tố: sự hăng hái (vigor), sự cống hiến (dedication), sự miệt mài (absorption). Theo Harter và cộng sự (2002), cam kết của nhân viên với tổ chức được cho là sự dồn tâm trí, sự hài lòng và sự hưng phấn của một cá nhân vào công việc. Theo Wellins va Concelman (2005) cho rằng: cam kết của nhân viên với tô chức là cảm xúc và thái độ của nhân viên hướng đến công việc và tổ chức. Theo Saks (2006), cam kết của nhân viên với tổ chức là một trạng thái đặc biệt bao gồm các thành phần có quan hệ đến hiệu quả công việc của từng cá nhân, các thành phần đó bao gồm tâm lý, cảm xúc và hành vi.
Loekwood (2007, dẫn theo Thái Kim Phong 2011) cho rằng cam kết của nhân. viên với tổ chức (EE) là mức độ mà nhân viên gắn bó với tổ chức, nhân viên làm việc tích cực như thế nào và nhân viên ở lại trong bao lâu là kết quả của sự cam kết đó. Theo Blessing White (2011, din theo Thái Kim Phong 201 1), các tổ chức theo đuổi các giá trị, mục tiêu và chiến lược thành công của tổ chức thì nhân viên cũng có. những giá trị, mục tiêu và chiến lược cho sự thành công của riêng mình.
Sự cam kết là hoàn toàn, trọn vẹn khi nhân viên có được sự hài lòng cao nhất về vai trò, công. việc của mình vừa đóng góp nhiều nhất vào sự thành công bền vững của tổ chức. Mỗi nhà nghiên cứu đều có những định nghĩa khác nhau về cam kết gắn bó của nhân viên với tổ chức. Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Meyer& Allen( 1997 ) Theo Meyer & Allen ( 1997 ) Cam kết gắn bó với tổ chức là trạng thái tâm lý.
biểu thị mối quan hệ của nhân viên với tổ chức, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ với tổ. chức và mong muốn góp phần vào việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức 1. Các thành phần của cam kết nhân viên với tổ chức Như đã nói, mỗi nhà nghiên cứu có những định nghĩa khác nhau về cam kết gắn bó với tổ chức do vậy mà họ có những thành phần khác nhau để đo lường khái niệm này. Tác giả xin được liệt kê một vài đề xuất chính: Mowday và cộng sự (1979 ) đề xuất 3 thành phần của cam kết gắn bó Sự đồng nhất ( Indentification): _ có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu, giá trị tổ chức Lòng trung thành ( Loyalty ): mong muốn có một cách mạnh mẽ duy trì vai trò thành viên của tổ chức Su dan than ( Involvêmnt ): dắn thân vào các hoạt động tô chức và luôn cố ắng tự nguyện tổ chức.
O’reilly va Chatman ( 1986 ) dé xuất 3 thành phần của cam kết gắn bó: Sự phục tùng( Compliance ): su dan thân vì những ơphần thưởng đặc biệt Sự gắn bó( Identification ): sự gắn bó vì mong muốn hội nhập với tô chức. Sự chủ quan ( Internalisation ): sự dắn thân do có sự phù hợp, sự tương đồng. giữa giá trị của cá nhân với giá trị của tổ chức Penley và Gould ( 1988 ) đề xuất 3 thành phần của cam kết gắn bó: ‘Dao dite ( Moral ): sự chấp nhận và đồng thuận theo mục tiêu của tổ chức. Tính toán ( Calculative ): sự đồng nhất với tổ chức vì nhân viên cảm thấy hài lòng với sự khích lệ vật chất khi có những đóng góp cho tổ chức Sự thờ ơ ( Alienative ): nhân viên ở lại với tổ chức chỉ vì áp lực của môi trường, dù họ thấy những gì họ nÏ được không còn tương xứng với công sức họ đã bỏ ra.
Trong số nhiều định nghĩa và thành phần của sự cam kết gắn bó của nhân. viên với tô chức, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa và thành phần đo luéng cua Meyer và Allen (1991) cho nghiên cứu này của mình vì các thành phần cam kết gắn bó của nhân viên với tổ chức của Meyer và Allen được quan tâm và sử dụng nhiều trong. các nghiên cứu trước đây. Như vậy, nghiên cứu này sẽ sử dụng 03 thành phần của.
sự cam kết gắn bó: ~ Cam kết tỉnh cảm (affective commitment) ~ Cam kết duy trì (continuance commitment). ~ Cam két nghia vu (normative commitment). Người lao động có thê trải nghiệm cả ba cấu phần này trong sự cam kết của mình và mỗi người có thể có các mức độ cam kết khác nhau ở các cấu phần khác nhau.Cam kết tình cảm Cam kết dựa trên tinh cảm được định nghĩa như một trạng thái tâm lý đặc trưng cho mỗi quan hệ của người lao động với -hức (English và cộng sự, 2010). Theo Allen và Meyer (1990) thì cam kết dựa trên tình cảm thể hiện nguyện vọng 10 muốn ở lại doanh nghiệp dựa trên những tỉnh cảm của cá nhân đối với doanh nghiệp và những người lao động có cam kết dựa trên cảm xúc “đồng cảm và dành hết tâm trí cho tổ chức và thích thú khi làm thành viên của tổ chức” và họ ở lại với tổ chức.
bởi vì họ muốn thế. ngoài sự đồng cảm với tổ chức thì những cả nhân có cam kết dựa trên cảm xúc cao. sẽ được cam kết để theo đuổi mục đích của họ. Meyer và cộng sự (2002) tìm thấy cả ba cầu thành của cam kết với tổ chức có mỗi quan hệ ngược chiều với việc “thu hồi nhận thức”, doanh thu, sự vắng mặt tại tổ chức, căng thăng và những xung đột từ phía gia đình, bên cạnh đó sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp.
è những tố, mối tương quan và kết quả của cam kết với tổ chức trong nghiên cứu này. cũng tìm thấy mỗi quan hệ tích cực giữa hiệu quả công việc với “hành vi công dân của tổ chức - OCB” (khái niệm được Smith và cộng sự (1983) phát triển dựa trên khái niệm gốc về “sự sẵn lòng hợp tác”). Khi nghiên cứu về cam kết với tổ chức kiểm định trong bối cảnh không phải ở các quốc gia phương Tây là Trung Quốc thì u và cộng sự (2014) nhắn mạnh trong các cấu thành cam kết với tổ chức thì cam kết dựa trên tình cảm được coi là cam kết quan trọng và có giá trị nhất bởi vì nó có thể gây ảnh hưởng tới các cấu phần khác trong dài hạn. He và cộng sự (2011) nhận.
định những người lao động có cam kết dựa trên tỉnh cảm sẽ có sự tin tưởng vào những giá trị, văn hóa và những mục tiêu mà tổ chức đặt ra. Cam kết duy trì Theo Allen vi Meyer (1990) cam kết duy trì là nguyện vọng ở lại tổ chức của người lao động bởi vì họ nhận thức được những chỉ phí liên quan tới việc rời bỏ tổ. Cũng theo hai tác giả thì người lao động vẫn tiếp tục làm việc tại tổ chức bởi họ thấy cần phải làm như vậy. Bên cạnh đó, cam kết duy trì còn được mô tả như “sự nhận thức về mức độ tốn kém khi chấm dứt cam kết với tổ chức” (Meyer và Herscovitch, 2001), bởi vì cam kết duy trì liên quan tới những cống hiến của người lao động trong quá khứ và vì thế duy trì thể hiện khi người lao động cảm thấy họ sẽ nhận được những lợi ích nếu họ ở lại với tô chức và những chỉ phí họ sẽ mắt đi nếu họ rời bỏ tô chức.
Do đó, có thể nói cam kết duy trì là kết quả của sự đầu tư (side- " bets) của cá nhân và sự hạn chế về những cơ hội việc làm bên ngoài tổ chức mà người lao động nhận thức được (Allen va Meyer, 1990; Becker, 1960; Powell va Meyer, 2004). Còn Powell và Meyer (2004) nhận định bảy sự đầu tư (side-bets) bao gm: sự kỳ vọng của những người khác đối với người lao động, những lo lắng về sự thé hiện của bản thân, những sự sắp xếp mang tính quan liêu không của riêng ai, sự điều chỉnh mang tính cá nhân, những lo lắng bên ngoài không liên quan tới công. › thiểu cơ hội lựa chọn vả những điều kiện thỏa mãn được xem như những tiền quan trọng cam kết dựa gắn bó duy trì (Powell và Meyer, 2004). Và chính sự cộng dồn lại những sự đầu tư này theo thời gian sẽ làm gia tăng chỉ phí liên quan tới việc rời bỏ tổ chức và kết quả sẽ tăng cường cam kết dựa trên gắn bó duy trì của người lao động (Mathieu và Zajac, 1990).
Cam kết nghĩa vụ Theo Allen và Meyer (1990) thì cam kết nghĩa vụ là mong muốn của người lao động ở lại tổ chức do họ cảm thấy đó là nghĩa vụ của họ. Những người lao động. có cam kết nghĩa vụ cao sẽ ở lại tô chức bởi vì đó là họ nghĩ đó là điều nên làm (Meyer và Allen, 1991). Trong nghiên cứu của mình Meyer và Parfyonova (2010) tin rằng, cam kết nghĩa vụ bao gồm hai khía cạnh đó là “trách nhiệm đạo đức” và “nghĩa vụ dựa trên sự mang ơn” với tô chức.
Vì thế cam kết nghĩa vụ tổn tại khi những người lao động có cảm giác rằng việc ở lại tổ chức là “đúng” hay “có đạo. Do vậy, những người lao động sẽ cam kết dựa trên gắn bó nghĩa vụ cao nếu như họ được những người khác tác động tới họ khi nhắn mạnh vào sự trung thành với tô chức và lý do họ ở lại với.