Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các thảo luận Chương 4: Tổng kết và hàm ý 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 7.1 Những nghiên cứu nước ngoài - Ozdemir va Boran (2004) kiểm tra 500 khoản vay tiêu dùng ở Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1999 đến năm 2001. Kết quả của họ cho thấy giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, thu nhập, loại tín dụng và quy mô khoản vay có mối quan hệ không đáng kể với khả năng nợ xấu của khoản vay tiêu dùng. Mặt khác, các khoản cho vay có lãi suất cao hơn và thời gian đáo han đài hơn có nguy co ng xâu cao hơn.
~_ Hörkkð (2010) phân tích 14.595 khoản vay tiêu dùng ở Phần Lan từ năm 2008 đến năm 2009 và nhận thầy rằng khách hàng là nữ, là công dân bản địa, từ 61-70 tuổi và có nhà riêng dường như ít bị nợ xấu hơn. Kết quả cũng cho thấy rằng những người có nhiều thẻ tín dụng hơn (tức là nhiều khoản vay bán lẻ hơn), đã từng cho vay từ ngân hàng, có điểm tín dụng cao hơn và chọn khung thời gian trả nợ ngắn hơn có xu hướng nợ xấu ít thường xuyên hơn. Mặt khác, các yếu tố như số con, thu nhập, trình độ học vấn và nơi sinh sống (nông thôn so với thành thị) có mối quan hệ không đáng kể với khả năng nợ xấu. - Bellueei, Borisov & Zazaro (2010) cho thấy giới tính của người vay cũng như của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng đến các khoản vay.
Cụ thẻ, nếu người đi vay là nữ thì sẽ gặp phải các điều khoản khó khăn hơn. Nếu cán bộ tín dụng là nữ thì có xu hướng hạn chế khả năng cấp tín dụng cho những người vay mới hơn các đồng nghiệp nam. Điều này có thẻ giải thích bởi vì họ thiếu tự tin hay ngại rủi ro hơn các cán bộ tín dụng nam. - Koéenda va Vojtek (2011) kiểm tra 3.403 khoản vay bán lẻ ở Cộng hòa Séc trong giai đoạn 1999-2006 và ghi lại rằng trình độ học van, thu nhập và tình trạng hôn nhân là những yếu tố nhân khẩu học quan trọng quyết định khả năng nợ xấu của khoản vay tiêu dùng.
Các đặc điểm cho vay liên quan đến khả năng nợ xấu là quy mô và mục đích của khoản vay. Các yếu tố khác trong mô hình của Košenda và Vojtek (2011) bao gồm giới tính, lĩnh vực và số năm làm việc của khách hàng, hành vi gửi tiền và ngày mở tài khoản dường như không liên quan đến khả năng nợ xấu cho khoản vay tiêu dùng.2 Những nghiên cứu trong nước ~_ Dinh và Kleimeier (2007) đã kiểm tra 56.037 khoản vay tiêu dùng từ năm 1997 đến năm 2005 và chỉ ra rằng trong số 16 biến mà họ khuyến nghị đưa vào mô hình chấm điểm tín dụng của ngân hàng, thời gian của khách hàng với ngân hàng, giới tính, số lượng các khoản vay và thời gian đáo hạn của khoản vay là những yếu tố dự báo quan trọng nhất về khả năng nợ xấu của khoản vay. - Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011) sử dụng 202 khoản vay (cả doanh nghiệp và tiêu dùng) chứng minh khả năng tài chính của người vay, quá trình kiểm tra giám sát của ngân hàng, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và kinh nghiệm của người vay có liên quan đến rủi ro tín dụng của khoản vay nhưng giá trị tài sản thế chấp và ngành nghề chính tạo ra thu nhập để trả nợ không có ảnh hưởng gì. - Phan Đình Khôi và Nguyễn Viết Thanh (2017) kiểm tra 316 khoản vay (bao gồm cả cho vay doanh nghiệp và tiêu dùng) từ năm ngân hàng thương mại nhà nước và chứng minh tài sản đảm bảo cho khoản vay, sử dụng vốn vay của khách hàng, lịch sử vay vốn của khách hàng tại ngân hàng, ngành nghề chính tạo ra nguồn thu để trả nợ, kiểm tra giám sát sau cho vay, khả năng tài chính của khách hàng và kinh nghiệm làm việc của cán bộ tin dụng có liên quan đáng kẻ đến khả năng nợ xấu của một khoản vay.
~_ Bùi Hữu Phước và Ngô Văn Toàn (2018) phân tích 120 khoản vay doanh nghiệp và kết quả cho thấy kinh nghiệm làm việc của cán bộ tín dụng. năng lực tài chính của khách hàng, sự đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh của khách hàng, hoạt động kiểm tra và giám sát sau cho vay của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng nợ xấu của một khoản vay công ty. Mặt khác, tài sản bảo đảm cho khoản vay có mối quan hệ không đáng kẻ CHUONG 1 CO SO LY THUYET VA THUC TIEN NGHIEN CUU 1.1 KHÁI NIỆM VA DAC DIEM CỦA TÍN DỤNG CÁ NHÂN 1.1 Khái niệm tín dụng cá nhân a. Tin dung Tín dụng là khái niệm thẻ hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghẻo, người nắm quyền lực, người không có gì.
Tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả.Trong thực tế hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng, nó thỏa mãn nhu cầu chỉ trả của các chủ thể trong nền kinh tế khi chủ thể đó thiếu hụt nguồn tài chính tạm thời “Thuật ngữ "tín dụng" lần đầu tiên được sử dụng trong tiếng Anh vào những.
Thuật ngữ này xuất phát từ "từ tiếng Pháp Trung cỗ crédit (thế kỉ XV) nghĩa là " Niềm tin, sự tin tưởng," tương đương với từ eredito trong tiếng Ý' và creditum trong tiếng Latinh nghĩa là "một khoản vay, một thứ được ủy thác cho người khác," là quá khứ phân từ của credere, có nghĩa là "ún nhiệm, ủy thác, tin tưởng". Ý nghĩa thương mại của "tín dụng" có nghĩa gốc từ từ tiếng Anh (creditor 1a [tir] giữa thế kỉ XV). Cụm từ phái sinh "credit union (Té chite tín dụng)" được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1881 trong tiéng Anh Mỹ; cụm từ "Credit rating (xép hang tin dung)" lan đầu tiên được sử dụng vào năm 1958. Theo H6 Diệu (2001), tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả Theo Nguyễn Thị Mùi (2008), tín dụng là một phạm trù của kinh tế hang hóa, có quá trình ra đời tổn tại và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa.
Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống Đốc ngân hàng Nhà Nước thì cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Như vậy, tín dụng có một quá trình tổn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình thái kinh tế, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có tính chất quan trọng như sau: ~ Tin dụng trước hết chỉ là sự giao chuyển quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. = Tin dung có thời hạn và phải được “hoàn trả”. ~_ Giá trị của tin dụng được nâng cao nhờ vào lợi tức mà tín dụng mang lại 6.
Tín dụng cá nhân “Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm tín dụng cá nhân dựa. 10 trên khái niệm về tín dụng ngân hàng. Tín dụng cá nhân được định nghĩa là hình thức tín dụng mà trong đó ngân hàng thương mại đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định, phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể (Nguyễn Ngọc Lê Ca, 201 1). Ở nước ngoài, khái niệm tín dụng cá nhân được các nhà nghiên cứu đánh giá là một khái niệm rất rộng và có ý nghĩa không rõ ràng (Hörkkö, 2010).
Hörkkö (2010) tín dụng cá nhân là những khoản vốn được cấp để phục vụ mua. bán hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng hoặc kinh doanh của các hộ đăng ký kinh doanh cá thể. Tín dụng cá nhân được cấp bởi các ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng, các công ty thẻ tín dụng và cửa hàng thương mại. Như vậy, tín dụng cá nhân là khoản vay dành cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể dùng đẻ phục vụ đời sống tiêu dùng và sản xuất kinh doanh dưới hình thức kinh doanh nhỏ lẻ.2 Đặc điểm của tín dụng cá nhân Tín dụng cá nhân có nhiều khác biệt so với tín dụng doanh nghiệp.
Những khác biệt này cũng phản ánh đặc điểm của tín dụng cá nhân, cụ thể như sau: Mục đích vay vốn của khách hàng cá nhân gồm: ~_ Mục đích vay vốn bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình được luật pháp quy định cụ thể, phù hợp với năng lực, chức năng thực tế của đối tượng kinh doanh. Các cá nhân, hộ kinh doanh thường được các cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc được các đơn vị phường xã xác nhận có đăng ký kinh doanh do loại hình mua bán nhỏ lẻ. Ngoài ra, một số cá nhân, hộ gia đình không ll tiến hành đăng ký kinh doanh do đặc thù loại hình kinh doanh gia truyền lâu đời.
~_ Thứ hai, mục đích vay tiêu dùng mua sắm.