Chương 1: Cơ sở lý luận về thái độ đối voi công việc của nhân viên và sáp nhập DI Chương này tác giả trình bày lý thuyết, khái niệm liên quan tới thái độ đối với công việc của nhân viên và vấn đề sáp nhập của các DN là cơ sở cho việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với công việc của nhân viên sau quá trình sáp nhập DN. Chương 2: Thiết kế nghỉ cứu Chương này tác giả mô tả về địa bàn, DN nghiên cứu, cũng như lược khảo các nghiên cứu liên quan làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu cho luận văn của tác giả. Chương 3: Kết quã nghiên cứu Chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thông qua khảo sát nhân viên hiện đang làm việc tại Công ty TNHH MTV DV mặt đất sân bay VN thông qua việc xử lý dữ trên phần mềm SPSS 23.0 và phân tích kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách Dựa vào kết quả nghiên cứu được trình bày ở Chương 3 của luận văn, tác giả rút ra kết luận, so sánh với các nghiên cứu trước và đề xuất hàm ý chính sách nhằm gia tăng thái độ đối với công việc của nhân viên sau quá trình sáp nhập DN tại Công ty TNHH MTV DV mặt đất sân bay VN. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ THÁI ĐỘ ĐÓI VỚI CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP.
MOT SO ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Thái độ và thái độ đối với công việc, với tổ chức ¥ Thai dg Có nhiều định nghĩa khác nhau khi bàn về thái độ. Theo Armenakis và cộng sự (1993) cho rằng: “Thái là trạng thái của hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản ứng, là trạng thái có tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ và nó điêu khiên cũng như ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân.” Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New York năm 1996 thì lại cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiế p thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhát định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao. Một thái được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng.
Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”. Năm 1971 nhà tâm lý học người Mỹ H.C Triandis đã đưa ra một định nghĩa khác về thái độ. Ông nói rằng “Thái độ là tư tưởng được tạo nên từ cảm xúc tình cảm. Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ở một giai cấp nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định.
Thái độ con người bao. gồm những điều mà họ cảm thấy suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách sử dụng của họ đối với đối tượng đó." Theo Barrett và Mayson (2007) đã đưa ra một định nghĩa: “Thái là xu hướng thường xuyên đối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống. nhất của ý nghĩa (nhận thức), xúc cảm và hành vi. Thái ộ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi và thái độ được xác định bởi tính thống nhất bên trong hành vi đó.
Kalat (2010 - Introduction to Psychology) dura ra ịnh ngh “Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay người đó” nhà tâm lý học John Traven cũng định nghia: “Thai độ là cách cảm xúc tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay bản chất của con người đi Trong từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa “Cách nhìn nhận hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể biểu ra bên ngoài của ý nghĩ tình cảm của cá nhân đi với con người hay một sự việc nào đó”. Như , thái độ là xu hướng thường xuyên đối với sáp nhập doanh nghiệp, nó biểu thị sự thông nhất của ý nghĩa (nhận thức), xúc cảm và hành vi. Thái độ của nhân viên có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi và thái độ được xác định bởi tính thống nhất bên trong hành vi đó.
Thái chính là biểu hiện của sự thích hay không thích của nhân viên đi tổ chức có thể theo chiều hướng tích cực (thích) hoặc chiều hướng tiêu cực (không thích). Y Thai độ đối v: ï công việc, vi ï tổ chức Khái niệm thái độ đối với công việc hay thái độ làm việc rất phong phú. Theo Callan (1993) “thi thái độ làm việc thường được định nghĩa là: Đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về các khía cạnh của môi trường làm việc ca mot ng “Ngoài ra có thể sử dụng một trong các khái niệm duge chap nhan pho biến: Thái độ công việc là sự đánh giá liên quan đến công việc của một cá nhân về sự bày tỏ cảm giác (cảm xúc), về niềm tin và sự gắn bó với công. việc của cá nhân đó” (Judge & cộng sự, 2014).
“Nhiều nghiên cứu không định nghĩa tổng quát thá làm việc mà chỉ cụ thể hóa bằng cách mô tả nó thông qua các mặt cụ thể và định nghĩa cũng như phân tích các mặt thái độ này để làm sáng tỏ thái đ (Chih và công sự, 201 1). Tác giả này đã nêu khái niệm vẻ thái độ làm việc một cách khái quát nhất. Như vậy, thái độ làm việc cũng là thái độ của con người nhưng được cụ thể hóa hơn ở môi trường làm và trong các mối quan hệ của tô chức. Do đó thái đ làm việc có đầy đủ các đặc trưng và các thành phần như khái niệm thái độ tong quát đã đề cị phần trên.
Thái độ làm việc mang đặc trưng hai chiều nên khi xét đến th: làm việc, ta đang xét đến thái độ tốt hay xấu, có lợi hay bắt lợi. Tắt nhiên dưới góc nhìn của hành vi tổ chức, tốt hay xấu, có lợi hay bất lợi được nhìn nhận dưới góc độ đối tượng bị tác động là tổ chứ Một thá được cho là tốt hay tích cực vì thái độ đó tạo nên những giá trị tích cực cho tổ chức và ngược lại. Thay đổi tổ chức, sáp nhập doanh nghiệp. * Thay đổi tổ chức Sap nhập DN là hình thức mà DN thực hiện tô chức lại.
Do đó, khái niệm sáp nhập DN được hiểu như sau: Theo Lines (2005) định nghĩa “thay đổi tổ chức được định nghĩa là một sự thay đổi có kế hoạch của tổ chức gồm hệ thống tổ chức, quy trình hoặc lĩnh vực sản phẩm chính của tổ chức nhằm nâng cao việc đạt được một hay nhiều mục tiêu của tổ chức”. Cao và cộng sự (2000) cho rằng “thay đổi tổ chức nhằm điều chỉnh tổ chức phù hợp với khoa học kỳ thuật, kích thước tổ chức và môi trường kinh doanh”. Theo Klein (1996) “thay đối trong tổ chức lớn thường bắt đầu một cách từ từ, được thực hiện từng bước và có thẻ thực hiện sau khi có được các thông tin cần thiết cho sự thay đổi. Chắc chin đó là phương pháp 10 thường được sử dụng bởi những người có sự hiểu biết về thay đổi tô chức.
Gi loạn đầu thường phác họa kế hoạch đẻ thay đổi không có sự tham gia của người lao động, tiếp theo có thẻ chỉ tham gia của một phần lực lượng lao động có kiến thức về những gì đang diễn ra và cuối cùng là sự tham gia của tất cả lao động trong tô chức, đồng thời sẽ xuất hiện kháng cự khá căng. thẳng để thay đổi”. Theo Gopalakrishnan va Damanpour (1997) “Thé ngày nay được đặc trưng bởi những thay đổi sâu sắc về xã hội, kinh tế và công nghệ. Sự thay đổi có mặt khắp mọi nơi và phổ biết , và sự đôi mới tạo điều kiện cho.
quá trình thích ứng với nhiều thay đổi này”. Theo Cameron Montgomery và cộng sự (1996), “muốn thay đổi thành. công đòi hỏi phải phá vỡ sự đông cứng của hiện trạng. Hiện trạng có thẻ được xem là trạng thái cân bằng của tổ chức.
Trong mô hình 3 bước của Lewin sự thay đổi là quá trình chuyên từ cách làm cũ sang cách làm mới một cách có hệ thống. Phá vỡ sự đông cứng của hiện trạng chỉ tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho sự thay đổi. Giai đoạn tái đông cứng phản ánh việc theo đuổi sự thay đổi và biến sự thay đổi này trở nên bền lâu. Quá trình thay đổi trong tổ chức được diễn ra theo 3 giai đoạn: (1) Phá vỡ sự đông cứng của hiện trạng; (2) Chuyển sang trạng thái mới; (3) Tái đông cứng sau khi đã thay đổi”.
Lau và cộng sự ( 1995 ) “đưa ra bón lý thuyết của sự thay đổi là quá trình vòng đời, mục đích luận, lý thuyết biện chứng và tiền hóa. Trong mỗi lý thuyết: (a) Quá trình được xem như là một chu kỳ khác nhau của sự thay đổi; (b) Được điều chỉnh bởi một động cơ khác nhau hoặc cơ chế tạo ra; (c) Hoạt động trên một đơn vị phân tích khác; (d) Đại diện cho một chế độ thay đổi khác”. “Các tổ chức thay đổi vì họ cần quy định trong quá trình tăng trưởng. *⁄ Sáp nhập doanh nghiệp Theo khoản 25 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “76 chite lại doanh nghiệp là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyến đổi loại hình doanh nghiệp.” Do đó, sáp nhập doanh nghiệp là một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, Khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyên, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm đứa sự tằn tại của công ty bị sáp nhập.” Khoản 2 Điều 29 Luật Canh tranh năm 2018 định nghĩa như sau: “Sáp.
nhập doanh nghỉ là một hoặc mộiô số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.” Theo Hồ Quỳnh Anh (2019) thì “Sáp nhập là khi hai doanh nghiệp đồng ý tham gia cùng nhau để đạt đến mục tiêu chung trên cơ sở sử dụng. nguồn lực tổng hợp từ hai bên.