Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các lÿ thuyết về động lực làm việc, năng suất lao động, các thành phân của động lực làm việc theo quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm động lực làm việc và tạo động lực làm việc Dưới góc độ quản trị học, nhiều tác giả quan niệm động lực như là những yếu tố có tác dụng thúc đây, khuyến khích, động viên con người nỗ lực lao động, làm việc nhằm hướng tới mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Theo Kreitner (1995), “động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) cho rằng “động lực là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tô chức”. Tóm lại, động lực làm việc xuất phát từ mỗi bản thân ở dạng tiềm thức, có thể ở dạng có ý thức hay vô thức và không phải lúc nào chúng ta cũng biết rõ điều gì đã tạo ra động lực cho mình. Con người sẽ có mục tiêu mong muốn khác nhau tương ứng ở những vị trí khác nhau cùng với những đặc điểm tâm lý khác nhau.
Vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau. Vì vậy, nhà lãnh đạo cần có những cách tác động động lực làm việc khác nhau đến mỗi người lao động. Tạo động lực làm việc là “tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp có thê thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc tỉnh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động” (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007). Vũ Thị Uyên (2007) cũng cho rằng tạo động lực làm việc là “Sự vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới nhân 11 viên nhằm làm cho họ có động lực trong công việc, thúc đây họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đóng góp cho tổ chức”.
Trong nghiên cứu này tác giả ủng hộ quan điểm của Herzberg (1959) cho rằng tạo động lực làm việc là sự kết hợp giữa nhân tố phát triển và nhân tố duy trì, dẫn đến sự khao khát và tự nguyện của người lao động dé tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Sự cần thiết phải tạo động lực làm việc cho nhân viên - Tạo điều kiện, thúc đẩy, động viên người lao động hăng hái cố ging hơn trong công việc, nhiệt tình thực hiện nhiệm vụ, cống hiến tắt cả tri thức, sức lực để thực hiện cho mục tiêu chung của tổ chức, đồng thời cũng thỏa mãn nhu cầu và mục tiêu của bản thân người lao động. -_ Nâng cao sức sáng tạo và phát huy tích cực cống hiến của nhân viên, phấn đấu đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp. -_ Kết hợp hài hòa giữa mục tiêu mong muốn của cá nhân với mục tiêu của doanh nghiệp.
~_ Thu hút và giữ chân người lao động gắn bó lâu đài với tổ chức, góp phân thúc đây, cải thiện năng suất lao động của doanh nghiệp. ~_ Giúp tổ chức có được ưu thế cạnh tranh so với đối thủ cạnh trạnh. Quan hệ giữa động lực và nhu cầu của con người Nhu cau của con người được thể hiện qua mong muốn, sự khát khao đạt được và là sự đòi hỏi của mỗi cá nhân về vật chất lẫn tỉnh thần đẻ tồn tại trong sự lộng phát triển của tổ chức, xã hội. Nhu cầu của con người không cố định mà thay đổi theo mức độ nhận thức của cá nhân mỗi người, thay đổi theo môi trường làm việc, theo đặc điểm tâm sinh lý và thay đổi theo thời gian.
Theo Charles và Marshall (1992) thì nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một hiện tượng, sự vật nào đó theo sự cảm nhận của con người. Nhu cầu cụ thé rất đa dạng và vô tận, nhu cầu là nhân tố thúc đây sự hoạt động của con người, nhu cầu càng cấp thiết thì sự chỉ phối con người càng cao. Khi kiểm soát được 12 nhu cầu thì việc kiểm soát cá nhân trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, trong công việc thì người lãnh đạo chỉ có thể kiểm soát được các nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của người lao động.
Khi người lao động được thỏa mãn nhu cầu thì tắt yếu sẽ phát sinh thêm nhu cầu mới, người lãnh đạo. có thể định hướng được nhu cầu phát sinh theo định hướng của mình thì khả năng điều khiển người lao động cảng hiệu quả. Quan hệ giữa động lực và lợi ích con người Lợi ích và động lực có mối quan hệ mật thiết. Đề đạt được những lợi ích trong quá trình làm việc thì người lao động cần có sự có gắng để đạt được.
Bởi lợi ích mà người lao động nhận được chính là kết quả, thành quả trong quá trình làm việc của chính mình. Hoạt động làm việc của nhân viên trong tổ chức nhằm đáp ứng các nhu cầu cá nhân này. Những lợi ích mà người lao động có thể nhận được từ hoạt động lao động trong tổ chức như: lợi ích cho bản thân mình, lợi ích vật chất và cả lợi ích tỉnh thản, ngoài ra lợi ích nhóm, tập thể, xa hơn là lợi ích cộng đồng, lợi ích xã hội. Các phương pháp tạo động lực làm việc a.
Xéc định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc cho nhân viên (1) Mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp Bat kỳ doanh nghiệp nào muốn tổn tại và phát triển đều phải có kế hoạch, mục tiêu rõ rằng. Nhà lãnh đạo cần phải biết rõ mục tiêu đó và phổ biến mục tiêu đó đến với mọi người trong tổ chức để phần hoàn thành mục tiêu. (2) Nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc Việc người lao động hiểu rõ được mục tiêu chung của doanh nghiệp cũng như của từng mỗi người sẽ giúp việc thực hiện nhiệm vụ và hoạt động, của mỗi cá nhân được hài hòa, không chồng chéo lẫn nhau. Giúp người lao đông thuận tiện trong hoạt động của mình cũng tạo được động lực cho người lao động.
Muốn làm được điều này các tô chức cần thiết lập hệ thống phân 13 tích công việc. Lập bản tiêu chuẩn thực hiện công việc và bản mô tả công việc để xác định rõ ràng nhiệm vụ của từng người lao động. Sau đó cần đảm bảo. mọi người lao động đều nắm rõ được công việc của mình.
Một lưu ý đó là nhiệm vụ cần được xác định rõ ràng cụ thé, đễ hiểu, nhanh chóng kịp thời. (3) Đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ Sự đóng góp của nhân viên trong hoạt động chung của tổ chức cần được các nhà quản trị ghi nhận và đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Thường xuyên đánh giá trên cơ sở công bằng, công khai, minh bạch. Kết quả đánh giá chính xác sẽ giúp nhân viên có động làm việc tốt hon (Simons va Enz, 1995).
Tạo điều kiện thuận lợi đễ nhân viên hoàn thành nhiệm vụ (1) Loại trừ các trở ngại cho thực hiện công việc của người lao động Trong quá trình thực hiệ công việc, nếu như không có sự kiểm tra, tổ chức tốt người lao động có thể gặp phải rất nhiều trở ngại như: độ ồn, ánh sáng, môi trường, vệ sinh, tổ chức phục vụ nơi làm việc. Điều đó sẽ ảnh hướng tới khả năng làm việc của người lao động cũng như hiệu quả, hiệu suất làm việc. (2) Cung cấp các điều kiện làm việc cần thiết Tổ chức cần loại trừ những trở ngại, cung cấp phương tiện lao động cần thiết phục vụ công phương tiện đi lại thuận tiện và an toàn, để giúp người lao động hoàn thành công việc được dễ dàng hơn. Ngoài ra tô chức cần xây dựng chế độ giờ giấc làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo vệ sinh công nghiệp, nhiệt độ, độ âm, ánh sáng, khí hậu, tiếng ồn.
phù hợp với nhu cầu và giới hạn sinh lý của nhân viên. (3) Tuyển dụng và bố trí công việc phù hợp Công tác tuyển mộ, tuyên chọn lao động vô cùng quan trọng. Nếu doanh nghiệp tìm được những người thực sự phù hợp với công thì không chỉ doanh nghiệp mà cả nhân viên người lao động đều có lợi. Tổ chức có nguồn lao động phủ hợp với công việc, giúp mỗi người lao động thực hiện và hoàn 14 thành được công việc của mình đã được giao cũng như góp phần giúp tổ chức.
thực hiện được nhiệm vụ chung, giúp tổ chức tồn tại và phát triển. Còn bản thân người lao động khi được giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực của bản thân sẽ đam mê, hãng hái thực hiện cũng như tận tụy với công việc, nhanh chóng hoàn thành được nhiệm vụ. Nhưng nếu tổ chức tuyển dụng sai người cũng như giao nhiệm vụ không phù hợp với năng lực của người lao động sẽ làm cho tô chức trì trệ, người lao động trở thành gang nặng đối với tổ chức. Tuyển dụng đã khó nhưng sau khi đã tuyển dụng cần phải bố trí công việc phủ hợp với khả năng cũng như trình độ của người lao động để họ có thể phát huy hiệu quả cao nhất trong công việc.
Đây cũng là một cách thức để tạo. động lực mạnh mẽ cho người lao động. Nếu bố trí lao động phù hợp với công việc thì sẽ khai thác được năng lực của người lao động, tạo động cao trong quá trình làm việc. Còn nếu bố trí không hợp lý thì sẽ dẫn đến nhiều hậu quả xấu cho công ty, người lao động sẽ chán nản làm việc, năng suất giảm, thiệt hại cho tổ chức.
Simons và Enz (1995) cũng cho rằng khi người lao động được nhà lãnh đạo tuyển dụng và bố trí đúng với sở trường, năng lực chuyên môn của mình sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Kích thích lao động (1) Kích thích tài chính Để tạo động lực cho người lao động có rất nhiều phương pháp và một trong những phương pháp đem lại hiệu quả cao đó là kích thích về tài chính. Đối với người lao động thì kích thích tài chính là một phần thưởng thiết thực nhất đối với người lao động. - Tiền lương: Tiền lương có tác dụng giúp bản thân nhân viên và gia đình trong việc chỉ tiêu, sinh hoạt và các dịch vụ cần thiết.
Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến 15 địa vị của bản thân nhân viên trong gia đình, doanh nghi cũng như trong toàn xã hội.