CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VÀ MÔ HÌNH ĐÈ NGHỊ NGHIÊN CỨU 1. TÔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ INTERNET BANKING 1. Khái niệm NHTT (Internet Banking) là một hệ thống cho phép các cá nhân thực hiện các hoạt động, các giao dịch với ngân hàng ngay tại nhà hay bắt cứ nơi đâu thông qua Internet. Như những hình thức giao dịch với ngân hàng truyền thống, NHTT cho phép khách hàng thực hiện tất cả các giao dịch hằng ngày, chẳng hạn như chuyển khoản, truy vấn thông tin tài khoản, thanh toán hóa đơn và thậm chí một số các ứng dụng giúp giải quyết các khoản vay cũng như.
liên quan đến thẻ tín dụng. Thông tin tài khoản có thể được truy cập bắt cứ lúc nào dù ngày hay đêm, và có thể được thực hiện từ bất cứ nơi nào có kết nối Internet. Một số NHTT cập nhật thông tin theo thời gian thực, trong khi số còn lại ¡p nhật vào cuối ngày. Sau khi thông tin đã nhập vào, nó không cần phải tái nhập tương tự đề kiểm tra, mà theo đó thanh toán có thể được hoạch định để thực hiện một cách tự động.
Nhiễu ngân hàng cho phép chuyển tập tin giữa các chương trình và gói phần mềm kế toán phô biến đề đơn giản hóa hồ sơ lưu giữ $# Một số các nhận định về Internet Banking. NHTT được xem như là các hệ thống cho phép các khách hàng của ngân hàng có thể truy cập, tiếp cận tài khoản cũng như những thông tin chung của họ về các sản phẩm hay các dịch vụ của ngân hàng thông qua việc sử dụng. các website ngân hàng mà không cần tới sự can thiệp từ việc phải gửi thư, fax hay chữ ký gốc và sự xác nhận qua điện thoai (Henry, 2000). — _ Internet Banking khác với dịch vụ khác ở điểm nó cung cấp những sự kết nối toàn cầu từ bắt kỳ nơi nào trên thế giới và có thể dễ dàng truy cập từ bất cứ máy tính nào có kết nối Internet (Bradley & Stewart, 2003; Henry, 2000; Rotchanakitumnuai & Speece, 2003; Jan-Her Wu & cộng sự, 2006) — Chang (2003), Sullivan & Wang (2005) vi NHTT là một tiến trình đổi mới, cách tân tại nơi các khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng mà không cần phải tiếp xúc với nhân viên ngân hàng.
Nó cũng cho phép những. người không phải là khách hàng của ngân hàng truy cập và tìm hiểu NH thông. qua mạng lưới công cộng (Internet) trong khi Phone Banking hay các hình thức khác của E-banking chỉ cung cấp thông qua các mạng lưới giới hạn hơn, gin hơn với những giao dịch có sự tồn tại của các nhân viên ngân hàng.Các cấp độ của Internet Banking Diniz (1998), Henry (2000) và MU Yibin (2003) đã chỉ ra 3 cấp độ thuộc về chức năng của Intemet Banking hiện tại có mặt trên thị trường. Đó là: Cung cấp thông tin (Informational), trao đổi thông tin (Comunicative), giao dịch (Transactional).
~ Cung cấp thông tin (Informational) - Đây là cấp độ đầu tiên của IB. Thông thường, các NH giới thiệu, quảng bá thông tin về các sản phẩm và dịch vụ của NH bởi một máy chủ độc lập. Mức độ rủi ro do đó rất thấp bởi vì hệ thống thông tin riêng biệt giữa máy chủ và mạng lưới bên trong của NH. ~ Trao đổi thông tin (Communicative) - Loại hình này của NH cho.
phép một số tương tác giữa hệ thống của NH và khách hàng, được giới hạn ở một số hình thức như email, vấn tin thông tin tai khoản, ứng dụng cho phép. thực hiện vay hay cập nhật file thông tin cố định (tên, địa chỉ.) mà không cho phép thực hiện bắt kỳ sự chuyển khoản nào. ~ Giao dịch (Transaetional) - Cấp độ này cho phép khách hàng thực. hiện việc chuyển khoản từ tài khoản, thanh toán hóa đơn và kiểm soát các giao dịch khác với NHTT.
Lợi ích Internet Banking mang lại a. Loi ich tit quan dit của ngân hàng Lợi ích đầu tiên đối với những ngân hàng cung cấp dịch vụ IB đó là tạo ra được hình ảnh thương hiệu NH tốt hơn cũng như có những phản ứng tích cực từ phía thị trường. Những ngân hàng cung cắp dịch vụ này sẽ được nhìn nhận như những người dẫn đầu về công nghệ. Từ đó, NH sẽ có được một hình.
ảnh thương hiệu tốt. Những lợi ích khác liên quan đến mặt tài chính. Phương châm cơ bản của bất cứ một DN nào đó là không ngừng tìm kiếm, tối đa hóa lợi nhuận cho. chủ sở hữu và NH cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.
Cung cấp dich vụ IB giúp NH có thể giảm thiểu rất nhiều chi phí so với các kênh phân phối truyền thống khác. Thật vậy, theo một nghiên cứu của Booz, Allen va Hamilton chỉ phí trung bình cho một giao dịch thông thường tại chỉ nhánh ở Mỹ là 1. Trong khi đó, giao dịch qua điện thoại là 54 cents, qua ATM la 27 cents và ở mức thấp nhất đó là chỉ phí trung bình cho một giao dịch IB chỉ 1,5 cents (Nathan 1999; Pyun và cộng sự, 2002). Tại Phần Lan, chỉ phí trung.
bình cho một giao dich thông qua NHTT chỉ mắt 11 cents trong khi chỉ phí đó tại chỉ nhánh là 1$ (Dynamo và cộng sự, 2001). Rõ rằng phí giao dịch IB được đánh giá ở mức rất thấp so với các giao dich truyền thống, từ đó góp phần làm giảm chỉ phí, tăng doanh thu cho hoạt động NH. Không những thế, cung cấp dịch vụ IB giúp cho các NH tăng khả năng chăm sóc khách hàng cũ cũng như thu hút thêm khách hàng mới (AL-Sukkar và Hasan, 2005). Thật vậy, chính sự tiện lợi có được từ công nghệ ứng dụng, từ phần mềm, từ nhà cung cấp dịch vụ mạng, dịch vụ Internet đã thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệ giao dịch với NH, trở thành khách hàng.
truyền thống của NH. Với mô hình NH hiện đại, kinh doanh đa năng thì khả 10 năng phát triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, nhiều. lĩnh vực kinh doanh của IB là rất cao b, Lợi ích từ quan điểm của khách hàng. Lợi ích lớn nhất mà NHTT đem lại từ quan điểm khách hàng đó chính là sự tiết kiệm thời gian một cách đáng kẻ từ việc thực hiện các giao dịch ngân hàng tự động và sử dụng IB như là một công cụ dễ dàng để quản lý tài chính (BankAway, 2001; Gurawu, 2002).
Những lợi ích mà ngân hàng trực tuyến mang lại cho khách hàng có thể kể đến là: Cắt giảm chỉ phí khi truy nhập và sử dụng các dịch vụ của ngân hang (Bradley & Stewart, 2003; Rotchanakitumnuai & Speece, 2003; Jayawadhera & Foley, 2000; Nath & cộng sự, 2001; Al-Sukkar & Hasan, 2005; Singh, 2004; Corrocher, 2002; Chang, 2003, Sullivan & Wang, 2005). “Tăng sự thuận tiện, và tiết kiệm thời gian, từ đó làm tăng sy hai long và sự trung thành với ngân hàng của khách hàng (Jen-Her Wu & cộng sự, 2006; Al-Sukkar & Hasan, 2005; Nathan & cộng sự, 2001) - Giao dịch có thể được thực hiện 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày mỗi tuần, mà không cần đến bắt cứ sự can thiệp thực thê nào từ phía ngân hàng. Có thể cập nhật thông tin một cách nhanh chóng và liên tục. Khách hàng.
có thể có được những thông tin cần thiết chỉ bằng một cái click. Quản lý tiền tốt hơn - Khách hàng có thể download lịch sử các tài khoản khác nhau của họ và tiến hành phân tích kịch bản “What-jf” từ chính máy tính. Do đó, IB giúp khách hàng có thé quan lý tiền, quỹ tài chính của mình tốt hơn. Lợi ích này càng đặc biệt có ý nghĩa hơn đối với các khách hàng.
Lợi ích cho nền kinh tế Theo một nghiên cứu tại Estonia (Aarma & Vensel, 2001), khách hàng. sử dụng các dịch vụ của NH tại chỉ nhánh giao dịch trung bình 1,235 lần một " tháng, và phải chờ tại trụ sở NH trung bình 0,134 giờ. Từ đó chỉ ra rằng việc thực hiện các giao dịch thông qua kênh phân phối điện tử (đặc biệt là sử dụng. 1B) hơn là tại các trụ sở ngân hàng sẽ tiết kiệm được cho nền kinh tế khoảng.
Một số hạn chế của Internet Banking. Al-Sukkar & Hasan (2005) đã chỉ ra một số hạn chế của NHTT sau đây: NHTT đồi hỏi một khoản chỉ phí gián tiếp của khách hàng bởi những điều kiện chính về hệ thống như điều kiện phải có máy tính cũng như có kết nối Internet để có thể thực hiện giao dich IB. Khả năng giao dịch bằng tiền mặt - khách hàng không thể gửi tiền hoặc rút tiền mặt trực tiếp khi sử dụng NHTT. Có một số các dịch vụ được cung cấp bởi các NH truyền thống khó hoặc không thể cung cấp được bởi NHTT như Sec du lịch 'Vốn đầu tư lớn: Để xây dựng một hệ thống NHTT đòi hỏi một lượng.
lớn vốn đầu tư ban đầu khá lớn để lựa chọn được một công nghệ hiện đại, đúng định hướng, chưa kể tới các chỉ phí cho hệ thống dự phòng, chỉ phí bảo trì, duy trì và phát triển hệ thống, đỗi mới công nghệ sau này. Đồng thời cin có một đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật có trình độ để quản trị, vận hành hệ thống. một lượng chỉ phí mà không phải NHTM nào cũng sẵn sàng bỏ ra đầu tư. Chưa kể việc đầu tư ấy có phát huy hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng truyền thông đất nước hay nói cách khác còn phụ.
thuộc vào những nỗ lực chung của cả một quốc gia chứ không riêng gì một NHTM nao Rủi ro cao: Vốn và công nghệ tuy là vấn để không phải dễ vượt qua, nhưng cũng có thể khắc phục được, vấn đề nan giải hơn là ở chỗ tính an toàn và bảo mật của hé thing NHTT. Rui ro trong hoạt động dịch vụ này là không. nhỏ, khách hàng có thể bị mất mật khẩu truy nhập tài khoản từ lúc nào mà 12 mình chẳng hay biết do bị “Hacker” ăn cắp bằng công nghệ cao. Từ đó tiền trong tải khoản của khách hàng bị mắt mà không biết tại bản thân mình nhằm.
lẫn hay tại NHTM. Còn về phía NHTM ở Việt Nam, do công nghệ chủ yếu là “nhập khẩu' tên sự chủ động nắm bắt công nghệ không cao, việc phát hiện và bịt các “lỗ hồng” của phần mềm mua từ nước ngoài chưa thể thực hiện được một cách đầy đủ, khả năng lớn là phải mời chuyên gia, tốn kém và mắt thời gian. Virus, sâu máy tính, phần mềm gián điệp là những nguy cơ thường trực. tấn công hệ thống qua việc giả mạo, đánh cấp dữ liệu khách hàng, tội phạm máy tính sử dụng tấn công kiểu "từ chối dịch vụ” (DDOS) làm tê liệt website là rất có thể xảy ra.