Luận văn: Truyền thông marketing cho Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Kon Plông

Luận văn thạc sĩ phân tích giải pháp truyền thông marketing cho dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giải pháp truyền thông marketing BHXH tự nguyện

Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện là một trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định và công bằng cho mọi người dân, đặc biệt là lao động khu vực phi chính thức. Tuy nhiên, việc triển khai chính sách này tại các địa bàn đặc thù như huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum gặp nhiều khó khăn. Luận văn thạc sĩ của Đặng Anh Tuấn (2020) đã nghiên cứu sâu về các giải pháp truyền thông marketing đối với dịch vụ BHXH tự nguyện, nhằm mục tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm tại đây. Kon Plông là một huyện miền núi nghèo, với trên 80% dân số là người dân tộc thiểu số, thu nhập bấp bênh và trình độ dân trí còn hạn chế. Những yếu tố này tạo ra rào cản lớn trong việc tiếp cận và thuyết phục người dân tham gia BHXH tự nguyện. Do đó, việc xây dựng một chiến lược marketing dịch vụ công bài bản, phù hợp với văn hóa và điều kiện địa phương là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền đơn thuần mà phải là một kế hoạch truyền thông marketing tích hợp (IMC), kết hợp nhiều công cụ khác nhau để tạo ra hiệu quả tối đa. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao nhận thức về BHXH tự nguyện, biến nhận thức thành hành động tham gia cụ thể, từ đó mở rộng diện bao phủ BHXH, đảm bảo cuộc sống cho người dân khi về già. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi, là tài liệu tham khảo giá trị cho các luận văn marketing ngành bảo hiểm và các nhà hoạch định chính sách.

1.1. Vai trò của BHXH tự nguyện trong chính sách an sinh xã hội

BHXH tự nguyện được xem là tấm lưới an sinh cuối cùng cho những người lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Theo Luật BHXH năm 2008, chính sách này mở ra cơ hội cho nông dân, người lao động tự do, và lao động trong khu vực phi chính thức được hưởng lương hưu khi hết tuổi lao động. Đây là một chính sách BHXH mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân. Tại các địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn như Kon Plông, vai trò của BHXH tự nguyện càng trở nên quan trọng. Nó không chỉ giúp người dân giảm bớt gánh nặng tài chính khi về già mà còn góp phần ổn định xã hội, giảm tỷ lệ đói nghèo và sự phụ thuộc vào con cháu, đảm bảo một cuộc sống độc lập và có phẩm giá.

1.2. Phân tích đặc điểm kinh tế xã hội huyện Kon Plông

Huyện Kon Plông có những đặc điểm kinh tế xã hội rất đặc thù. Đây là một trong 62 huyện nghèo của cả nước, với dân số tính đến cuối năm 2018 là hơn 26.000 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 80% (chủ yếu là dân tộc Xê Đăng, Mơ Nâm, Ka Dong). Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 chỉ đạt 23 triệu đồng/năm, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp quy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp và thu nhập không ổn định. Địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, trình độ học vấn và nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế là những rào cản lớn. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi người tiêu dùng dịch vụ công, khiến việc triển khai các chính sách như BHXH tự nguyện trở nên vô cùng thách thức.

II. Thách thức khi truyền thông BHXH tự nguyện tại Kon Plông

Hoạt động truyền thông marketing cho dịch vụ BHXH tự nguyện tại huyện Kon Plông đối mặt với nhiều thách thức cố hữu. Mặc dù BHXH huyện đã có những nỗ lực nhất định, thực trạng BHXH tại Kon Tum nói chung và Kon Plông nói riêng cho thấy tỷ lệ tham gia còn rất thấp. Theo số liệu của luận văn, đến hết năm 2018, toàn huyện chỉ có 81 người tham gia BHXH tự nguyện, chiếm tỷ lệ 0,53% trên tổng số lao động trong độ tuổi. Con số này cho thấy một khoảng cách lớn giữa tiềm năng và thực tế. Một trong những nguyên nhân chính là nhận thức của người dân còn hạn chế. Dù khảo sát cho thấy 89,33% người dân biết đến BHXH tự nguyện, nhưng sự hiểu biết sâu sắc về quyền lợi, mức đóng, và tính ưu việt của chính sách còn mơ hồ. Họ chưa thực sự tin tưởng và coi đây là một khoản đầu tư cần thiết cho tương lai. Bên cạnh đó, các rào cản về thu nhập và văn hóa cũng tác động không nhỏ, đặc biệt là trong marketing cho người dân tộc thiểu số. Các phương pháp truyền thông hiện tại còn khá truyền thống, chủ yếu là băng rôn, hội thảo, xe lưu động, chưa tạo ra được sự đột phá và sức lan tỏa mạnh mẽ. Việc thiếu một mô hình truyền thông hiệu quả, được thiết kế riêng cho địa bàn, đã làm giảm hiệu quả của các nỗ lực tuyên truyền, chưa chạm đến được nhu cầu và mối quan tâm sâu sắc của người dân.

2.1. Phân tích thực trạng tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện

Số liệu từ năm 2015 đến 2018 cho thấy sự gia tăng về số người tham gia BHXH tự nguyện tại Kon Plông, từ 35 người (năm 2015) lên 81 người (năm 2018). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng này rất khiêm tốn. So với tổng số 15.300 người trong độ tuổi lao động của huyện vào năm 2018, tỷ lệ bao phủ chưa đến 1% là một con số đáng báo động. Thực trạng BHXH tại Kon Tum cho thấy Kon Plông là một trong những địa bàn có tỷ lệ tham gia thấp nhất. Điều này phản ánh sự kém hiệu quả của các hoạt động truyền thông và phát triển đối tượng trong giai đoạn vừa qua. Các hoạt động chủ yếu tập trung tại thị trấn Măng Đen, trong khi các xã vùng sâu, vùng xa khác gần như chưa được tiếp cận một cách bài bản.

2.2. Rào cản văn hóa trong marketing cho người dân tộc thiểu số

Hoạt động marketing cho người dân tộc thiểu số đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về văn hóa, ngôn ngữ và tập quán. Tại Kon Plông, với hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, các thông điệp truyền thông chung chung, theo khuôn mẫu từ cấp trên thường không phát huy hiệu quả. Rào cản ngôn ngữ, thói quen tin vào già làng, trưởng bản và tâm lý ưu tiên các nhu cầu trước mắt hơn là các kế hoạch dài hạn là những thách thức lớn. Các kênh truyền thông truyền thống như báo chí, truyền hình có thể không phải là kênh tiếp cận chính của họ. Do đó, việc xây dựng các thông điệp và lựa chọn kênh truyền thông cần phải được cá nhân hóa, sử dụng ngôn ngữ địa phương và tranh thủ sự ủng hộ của những người có uy tín trong cộng đồng.

III. Phương pháp xây dựng chiến lược truyền thông marketing tích hợp

Để vượt qua các thách thức hiện hữu, việc xây dựng một chiến lược marketing dịch vụ công toàn diện là giải pháp then chốt. Thay vì các hoạt động rời rạc, BHXH huyện Kon Plông cần áp dụng nguyên tắc truyền thông marketing tích hợp (IMC). IMC đảm bảo rằng tất cả các thông điệp và công cụ truyền thông đều hoạt động một cách phối hợp, nhất quán để tạo ra một tác động tổng lực, mạnh mẽ hơn. Chiến lược này bắt đầu từ việc xác định lại công chúng mục tiêu một cách chi tiết. Không chỉ dừng lại ở nhóm "lao động tự do", cần phân nhỏ đối tượng theo nhóm tuổi, ngành nghề (nông dân, tiểu thương), mức thu nhập và địa bàn sinh sống. Từ đó, xây dựng các mục tiêu truyền thông cụ thể cho từng nhóm, ví dụ: nhóm trẻ tuổi cần được giáo dục về lợi ích dài hạn, trong khi nhóm trung niên cần được thuyết phục về tính an toàn và đảm bảo của chính sách. Thông điệp truyền thông phải được cá nhân hóa, đơn giản, dễ hiểu, nhấn mạnh vào lợi ích thiết thực như "lương hưu ổn định, không phụ thuộc con cháu". Việc kết hợp hài hòa giữa các công cụ xúc tiến hỗn hợp sẽ tạo nên một chiến dịch đa điểm chạm, tăng cường hiệu quả trong việc phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm một cách bền vững.

3.1. Áp dụng truyền thông marketing tích hợp IMC vào dịch vụ công

IMC là quá trình hoạch định chiến lược nhằm tạo ra một thông điệp rõ ràng, nhất quán và có sức ảnh hưởng tối đa thông qua việc phối hợp các công cụ truyền thông khác nhau. Đối với dịch vụ BHXH tự nguyện, IMC có nghĩa là kết hợp quảng cáo qua loa phát thanh xã, quan hệ công chúng (tổ chức sự kiện, tài trợ), bán hàng cá nhân (đội ngũ tuyên truyền viên đến từng nhà), và marketing tại địa phương (local marketing). Tất cả các kênh này phải cùng truyền tải một thông điệp cốt lõi, ví dụ: "BHXH tự nguyện - Tựa vững chắc cho tuổi già". Việc áp dụng IMC giúp BHXH huyện Kon Plông tối ưu hóa ngân sách hạn hẹp và tạo ra nhận diện thương hiệu nhất quán, đáng tin cậy trong tâm trí người dân.

3.2. Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ công theo đối tượng

Một chiến lược marketing dịch vụ công hiệu quả phải dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc về hành vi người tiêu dùng dịch vụ công. Thay vì một chiến lược "one-size-fits-all", cần phân đoạn thị trường. Ví dụ, với nhóm nông dân có thu nhập theo mùa vụ, có thể đề xuất phương thức đóng linh hoạt. Với nhóm tiểu thương ở chợ, có thể tổ chức các buổi tư vấn trực tiếp ngay tại chợ. Với thanh niên, có thể sử dụng các kênh truyền thông số (nếu có điều kiện) hoặc thông qua các tổ chức Đoàn, Hội. Mỗi phân khúc khách hàng sẽ có một cách tiếp cận và thông điệp riêng, giúp nâng cao nhận thức về BHXH tự nguyện một cách hiệu quả và trúng đích.

IV. Cách tối ưu công cụ truyền thông marketing BHXH tại địa phương

Để chiến lược truyền thông đi vào thực tiễn, việc lựa chọn và tối ưu hóa các công cụ xúc tiến hỗn hợp là cực kỳ quan trọng, đặc biệt là các hoạt động marketing tại địa phương (local marketing). Với đặc thù của Kon Plông, các kênh truyền thông đại chúng có thể không hiệu quả bằng các kênh truyền thông trực tiếp và dựa vào cộng đồng. Bán hàng cá nhân là công cụ hiệu quả nhất. Cần xây dựng một đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên là người địa phương, am hiểu văn hóa và có uy tín. Họ sẽ là cầu nối trực tiếp, giải đáp thắc mắc, và xây dựng lòng tin với người dân. Bên cạnh đó, các hoạt động quan hệ công chúng cần được đẩy mạnh. Tổ chức các buổi hội thảo, đối thoại chính sách tại nhà văn hóa thôn, lồng ghép nội dung tuyên truyền vào các buổi sinh hoạt cộng đồng, lễ hội. Mời những người đã tham gia và hưởng lợi từ chính sách chia sẻ câu chuyện của họ để tạo hiệu ứng lan tỏa. Thông điệp truyền thông cần được đơn giản hóa, sử dụng hình ảnh trực quan, ví dụ, so sánh số tiền đóng hàng tháng với một vài món chi tiêu không thiết yếu để cho thấy tính khả thi của việc tham gia. Đây chính là cách xây dựng một mô hình truyền thông hiệu quả, gần gũi và thuyết phục, phù hợp với bối cảnh của huyện Kon Plông.

4.1. Phát huy vai trò của bán hàng cá nhân và mạng lưới cộng tác viên

Bán hàng cá nhân, hay tuyên truyền trực tiếp, được xem là công cụ xương sống. BHXH huyện cần tuyển chọn và đào tạo một mạng lưới cộng tác viên tại mỗi thôn, làng. Những người này không chỉ cung cấp thông tin mà còn là người hỗ trợ người dân làm thủ tục, thu phí, và giải đáp thắc mắc. Họ cần được trang bị kiến thức vững vàng về chính sách BHXH và kỹ năng giao tiếp, thuyết phục. Mối quan hệ cá nhân và sự tin tưởng mà họ xây dựng được với cộng đồng sẽ là yếu tố quyết định để phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm.

4.2. Xây dựng thông điệp nâng cao nhận thức về BHXH tự nguyện

Thông điệp truyền thông phải giải quyết được hai vấn đề cốt lõi: sự cần thiết và tính khả thi. Để nâng cao nhận thức về BHXH tự nguyện, thông điệp cần tập trung vào lợi ích hữu hình như "có lương hưu hàng tháng", "được cấp thẻ BHYT miễn phí khi nghỉ hưu", "không là gánh nặng cho con cháu". Đồng thời, phải làm cho người dân thấy việc tham gia là khả thi bằng cách đưa ra các mức đóng tối thiểu, giải thích rõ ràng cách thức đóng linh hoạt. Các thông điệp này nên được thể hiện qua tờ rơi, áp phích với hình ảnh gần gũi và ngôn ngữ đơn giản, thậm chí là song ngữ nếu cần thiết.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các giải pháp truyền thông marketing đối với dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện kon plông tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CO SO LY LUAN VE TRUYEN THONG MARKETING 1. TONG QUAN VE TRUYEN THONG MARKETING 1. Truyền thông marketing, Truyền thông marketing là một khái niệm thường được sử dụng hàng năm. ‘Theo Philip Kotler “Truyền thông marketing là những cách thức mà qua đó doanh nghiệp có thể xác lập, thuyết phục và nhắc nhở khách hàng theo cách thức trực tiếp hay gián tiếp về sản phẩm và những thương hiệu mà họ.

bán trên thị trường” [15, tr. 1] 'Theo hiệp hội quảng cáo Mỹ 4AS “Truyền thông marketing là sự hoạch định nhằm xác định giá trị gia tăng của một kế hoạch tông hợp, đánh giá vai trò chiến lược của các thành phần khác nhau trong truyền thông như quảng. cáo, khuyến mãi, tuyên truyền, và sự kết hợp các thành phần này để tạo ra một truyền thông rõ ràng, đều đặn và hiệu quả tối đa” [19] Theo giáo trình marketing thương mại do Nguyễn Bách Khoa và Cao Tuấn Khanh (chủ biên), truyền thông marketing là “một lĩnh vực hoạt động. marketing chuyên biệt và có chủ đích hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập mối quan hệ đồng thuận nhất giữa công ty và bạn hàng của nó với tap khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối thuộc triển khai năng động.

chiến lược và chương trình marketing - mix đã lựa chọn của công ty” [14, 11.438] Như vậy, truyền thông marketing là phương thức truyền thông qua đó công ty thông báo, thuyết phục, nhắc nhở người tiêu dùng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp về thương hiệu mà họ bán. “Truyền thông marketing hay truyền thông cỗ động gồm sự kết hợp giữa các công cụ quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp mà công ty sử dụng để theo đuổi các mục tiêu marketing 1. Mục đích của truyền thông marketing Theo Hoang Minh Thu , Marketing truyén thong, NXB Lao động Xã hội, truyền thông marketing có các mục đích cơ bản là thông báo, thuyết phục. và nhắc nhở đối tượng nhận tin về sản phâm, dịch vụ và thương hiệu của doanh nghiệp.

Qua các nội dung thông điệp, doanh nghiệp muốn thông báo cho khách hàng về dịch vụ, thuyết phục họ về các ưu việt của dịch vụ so với các dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh, và nhắc nhở họ nhớ đền dịch vụ khi có nhu cầu. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải xây dựng mỗi quan hệ với khách hàng và duy tri mối quan hệ này [20] Nói cách khác, truyền thông marketing nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh trên thị trường. Có sản phẩm tốt thôi chưa đủ, doanh nghiệp phải xây dựng thương hiệu được khách hàng ưa chuông nên việc truyền thông trên thị trường để khách hàng biết tính năng ứng dụng, tính ưu việt và lợi ích của sản phẩm. Truyền thông marketing là một trong 4 công cụ của marketing mix có thể sử dụng để tác động vào người dùng tin nhằm đạt được mục đích của doanh nghiệp.

Bản chất của hoạt động truyền thông marketing là truyền tin về sản phẩm, dịch vụ và giới thiệu tới người dùng dé họ tin và thuyết phục họ sử dụng sản phẩm, dich vu. + Nâng cao nhận thức, sự hiểu biết và hình thành thói quen, tập quán ở mọi thành viên trong xã hội đối với sản phẩm, dịch vụ, hoạt động của doanh nghiệt + Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp; + Nâng cao khả năng của các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nhu cầu thông tin của mọi thành viên trong xã hội; + Nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội đối với các doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp, mục đích của truyền thông marketing đều hướng tới khách hàng. Việc tìm hiểu, đáp ứng nhu cầu về thông tin, tư liệu của các đối tượng người dùng tin này là vấn để được quan tâm hàng đầu tại các doanh nghiệp.

Nói cách khác, các doanh nghiệp phải thực hiện mọi cách để người dùng tin tưởng, tiếp cận nhiều hơn tới dịch vụ của mình. Vai trò của truyền thông marketing. Truyền thông marketing là một thành tố quan trọng, cùng với các thành tố marketing — mix khác giúp hoàn thiện hơn chiến lược marketing - mix. Nếu các chiến lược và chiến thuật marketing khác được xây dựng hoàn hảo sẽ giúp giảm bớt gánh nặng hiệu quả cho hoạt động truyền thông.

Tuy nhiên, hiếm doanh nghiệp nào có thể thành công, thu hút được nhiều sự tin tưởng, của khách hàng mà không sử dụng truyền thông marketing. Hơn nữa, đa số chu kỳ sống của sản phẩm đều ngắn nên doanh nghiệp phải tìm hiểu kỹ vai trò quan trọng của truyền thông để đảm bảo bán hết được các sản phẩm đó. Quá trình truyền thông marketing cũng giúp cho doanh nghiệp biết được các điểm mạnh, yếu của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh khác nhờ các phản hồi từ phía khách hàng và thị trường. Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ kịp thời điều chỉnh, cải tiến sản phẩm kịp thời phù hợp với thị hiếu nhằm đáp.

ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Hơn nữa, truyền thông marketing còn là công cụ cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp cũng cố xây dựng hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp. 10 Truyền thông marketing còn giúp doanh nghiệp truyền tải thông tin về sản phẩm cũ và sản phẩm mới, giá cả hàng hóa để giúp người tiêu dùng hiểu. biết về sản phẩm, ưa thích sản phẩm và tạo cơ hội cho người tiêu dùng lựa.

chọn sản phẩm. Sau khi thực hiện truyền thông marketing, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được định vị rõ ràng, cụ thể hơn, nhắn mạnh sự khác biệt so với sản phâm. của các đối thủ cạnh tranh khác và từ đó giúp công ty tăng doanh số bán hàng. Công ty cũng biết được sản phẩm của mình đang 6 vi tri nảo trong chu kỳ sống và đôi khi, hoạt động truyền thông marketing có thể kéo dài vòng.

đời của sản phẩm. Như vậy, thông qua chiến lược truyền thông marketing, doanh nghiệp thông tin cho khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng về những lợi thé, giá trị, lợi ích của dịch vụ mang lại cho khách hàng. Chiến lược truyền thông marketing còn giúp doanh nghiệp tăng doanh số, tạo ra sự nhận biết và tin tưởng của khách hàng đối với dịch vụ, và xây dựng một hình ảnh tốt đẹp về doanh nghiệp. Truyền thông cũng giúp cho doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu tới khách hàng.

Tuy nhiên, doanh nghiệp phải kết hợp chiến lược truyền thông với các thành tố khác của marketing ~ mix để tạo ra hiệu quả cao nhất 1. NOI DUNG CUA HOAT DONG TRUYEN THONG MARKETING 1. Xác định công chúng mục tiêu Công chúng mục tiêu là yếu tố đầu tiên cần xác định trước khi xây dựng chương trình truyền thông marketing. Công chúng mục tiêu có thể là các khách hàng hiện có của công ty và khách hàng tiểm năng của công ty.

Để Xác định công chúng mục tiêu, cần thực hiện một số bước như sau Bước 1: Phân tích hình ảnh về doanh nghiệp trong nhận thức của khách hàng để đánh giá xem hiện tại, hình ảnh của công ty, hình sản của sản phẩm, i dịch vụ của công ty và đối thủ cạnh tranh đang được khách hàng suy nghĩ, đánh giá như thế nào. Phân tích hình ảnh về doanh nghiệp giúp cung cấp thông tin để người truyền thông xác định được nhiệm vụ của công tác truyền thông trong thời gian tới. Như vậy, hiểu rõ khách hàng để có căn cứ chính xác. để xây dựng chiến lược truyền thông marketing.

~ Đánh giá mức độ hiểu biết của khách hàng về sản phâm và doanh nghiệp. Trước tiên, công ty phải lượng hóa mức độ hiểu biết của công chúng. mục tiêu về sản phẩm, dịch vụ và doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng 05 bậc đo đó là chưa bao giờ nghe chỉ mới nghe thấy; có biết ít nhiều; biết khá nhiều và biết rất rõ.

Nếu hầu hết khách hàng được hỏi chỉ biết về 02 mức đầu tiên, công ty cần phải làm cho công chúng hiểu biết nhiều hơn về sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu của công ty. ~ Đánh giá mức độ cảm nhận của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp: Đối với những khách hàng quen thuộc với sản phẩm, dịch vụ và thương hiệu, cần xác định xem sau khi sử dụng, họ đánh giá sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu như thế nào. Công ty có thé sử dụng 05 bậc để đo lường, đó là Rất không thích; Không thích; Không có ý kiến gì; Thích ở mức độ nào đó; Rất ưa thích. Nếu đa số khách hàng được hỏi lựa chọn 02 thang do đầu, công ty đang có hình ảnh xấu trong mắt khách hàng và công ty cần phải khắc phục suy nghĩ này.

Kết hợp các thang đo trên để hiểu biết rõ hơn nhiệm vụ của công tác truyền thông marketing trong thời gian tới. ~ Đánh giá mức độ mua của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp như khách hàng mua lần đầu, mua lặp lại, mua lặp lại nhiều lần, trung thành. Bước 2: Xác định vấn đề khách hàng quan tâm nhất về doanh số để có thể nâng cao mức độ ưa thích của khách hàng quan tâm nhất đến khi mua sản 12 phẩm, địch vụ của doanh nghiệp và đánh giá định lượng ý kiện của khách hàng về từng tiêu chí. Cụ thể, đó là: ~ Xác định các vấn đề mà khách hàng quan tâm nhất ~ Điều tra khách hàng để xác định mức độ cho điểm của khách hàng đối với mỗi doanh nghiệp viễn thông.

~ Xác định những tiêu chí quan trọng cần đạt được và tập trung vảo tiêu chí đó để phát huy cho chính doanh nghiệp của mình. Xác lập mục tiêu truyền thông marketing. Sau khi xác định công chúng mục tiêu và các đánh giá, đặc trưng của khách hàng, người truyền thông phải xác định phản ứng mong đợi từ các công. chúng mục tiêu, trong đó phản ứng cuối cùng là khách hàng mua và hài lòng.

Tuy nhiên, hành vì mua của khách hàng là kết quả của quá trình thông qua quyết định dài. Do đó, khi tiến hành truyền thông marketing, doanh nghiệp phải biết tại điểm đó, công chúng mục tiêu đang ở trạng thái nhận thức nào và cần phải đưa họ sang trạng thái nào để đạt được các mục tiêu marketing của doanh nghiệp. Nghĩa là, phải khuyến khích công chúng mục tiêu đạt được các. mục tiêu marketing cao hơn, trạng thái sẵn sàng mua.

Đây chính là mục tiêu mà chương trình truyền thông phải đạt được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ