CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1, TAL SAN THƯƠNG HIỆU VÀ TÀI SÂN THƯƠNG HIỆU ĐỊNH HƯỚNG KHÁCH HÀNG 1. Tài sản thương hiệu Trong marketing, thương hiệu được xem là trung tâm của các hoạt động marketing vì xây dựng thương hiệu chính là nhiệm vụ trọng tâm của marketing để tạo ra lợi nhuận lâu đài cho doanh nghiệp thông qua việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày cảng tốt hơn. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm về thương hiệu. Có thể phân chia thành hai quan điểm chính là quan điểm thương hiệu truyền thống và quan niệm tông hợp về thương hiệu.
Với quan điểm truyền thống, theo định nghĩa của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (World Ielleetual Property Organization) thì thương hiệu được xem là một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết một sản phẩm, một hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được cung cấp bởi một tô chức hoặc một cá nhân. Đối với quan điểm của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (American Marketing Association - AMA, 1985), thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng, hình vẽ, thiết kế hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một người hoặc một nhóm người bán với hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Quan điểm trên tồn tại trong một thời gian dài. Đến cuối thế kỷ 20, quan điểm về thương hiệu đã có nhiều thay đổi.
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này cho rằng quan điểm này không thể giải thích được vai trò của thương hiệu trong nên kinh tế toàn cầu và cạnh tranh gay gắt. Cùng với sự ra đời và phát triển của ngành tiếp thị, quan điểm về thương hiệu đã có nhiều thay đổi, dẫn đến một cách nhìn nhận mới về thương hiệu. Khái niệm mới này cho rằng thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà nó. 10 còn phức tạp hơn nhiều (Davis, 2002).
Nó là một tập hợp các thuộc tính cung, cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Tài sản thương hiệu (8zand Equip) là giá trị tăng thêm cho hàng hóa dich vụ (Aaker DA, 1991), bao gồm tắt cả những giá trị đặc thù ma thương hiệu mang đến cho những người liên quan (khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng. Đây cũng là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu về sau trích dẫn nhiều nhất (Yoo & ctg, 2000). Và những giá trị này sẽ được cộng vào sản phẩm hay dịch vụ nhằm để gia tăng giá trị đối với những người liên quan.
Những thành tố cấu thành tài sản thương hiệu này phải được kết nối với biểu tượng, logo của công ty hoặc sản phẩm. Nếu một công ty thay đổi tên hay biểu tượng bên ngoài thì những tài sản thương hiệu này thì sẽ bị ảnh hưởng, và trong một số trường hợp có thể bị mắt đi. Những thành tố cấu thành nên tài sản thương hiệu có thể khác nhau tùy theo mỗi trường hợp. Keller (1993) thì tài sản thương hiệu là “những hiệu ứng khác nhau mà kiến thức thương hiệu tác động đến phản ứng của khách hàng đối với chương trình marketing của thương hiệu đó”.
Các định nghĩa về tài sản thương hiệu dựa vào khách hàng bên cạnh những điểm khác biệt thì xét về một khía cạnh nào đó, chúng đều có sự kế thừa nhất định tir Aaker (1991) va Keller (1993). Tài sản thương hiệu mang đến giá trị cho công ty thông qua việc gia tăng dòng tiền tệ thông qua các cách thức sau: Thứ nhất, công ty có thể thu hút thêm được những khách hàng mới thông qua các chương trình tiếp thị. Một ví dụ là khi có một chương trình khuyến mại nhằm khuyến khích mọi người sử dụng thử hương vị mới hoặc công dụng mới của sản phẩm thì số người tiêu dùng hưởng ứng sẽ đông hơn khi họ thấy đây là một thương hiệu quen thuộc. Lý do chính là người tiêu dùng đã tin tưởng vào chất lượng và uy tín của sản phẩm.
'Thứ hai, sự trung thành thương hiệu sẽ giúp công ty duy trì được những i khách hàng cũ trong một thời gian dài. Sự trung thành sẽ được tạo ra bởi 4 thành tố trong tài sản thương hiệu là: sự nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính thương hiệu và các yếu tố sở hữu khác. Chất lượng cảm nhận và thuộc tính thương hiệu cộng thêm sự nổi tiếng của thương hiệu sẽ tạo. thêm niềm tin và lý do để khách hfng mua sản phẩm, cũng như những thành tố này sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
Gia tăng sự trung thành về thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng ở thời điểm mua hàng khi mà các. đối thủ cạnh tranh luôn sáng tạo và có những sản phẩm vượt trội. thành thương hiệu là một thành tố trong tài sản thương hiệu nhưng cũng bị tác đông bởi tài sản thương hiệu. Sự trung thành thương hiệu là một trong những giá trị mà tài sản thương hiệu mang lại cho công ty.
Thứ ba, tài sản thương hiệu sẽ giúp cho công ty thiết lập một chính sách giá cao và ít lệ thuộc hơn đến các chương trình khuyến mãi. Trong những trường hợp khác nhau thì các thành tố của tài sản thương hiệu sẽ hỗ trợ. công ty trong việc thiết lập chính sách giá cao. Trong khi với những thương hiệu có vị thể không tốt thì thường phải sử dụng chính sách khuyến mãi nhiều để hỗ trợ bán hàng.
Nhờ chính sách giá cao mà công ty cảng có thêm được lợi nhuận. Thứ tư, tài sản thương hiệu sẽ tạo một nền tảng cho sự phát triển thông. qua việc mở rộng thương hiệu. Sony là một trường hợp điển hình, công ty đã dựa trên thương hiệu Sony đề mở rộng sang lĩnh vực máy tính xách tay với thương hiệu Sony Vaio, hay sang lĩnh vực game như Sony Play Station.
Một thương hiệu mạnh sẽ làm giảm chỉ phí truyền thông rất nhiều khi mở rộng thương hiệu. “Thứ năm, tài sản thương hiệu còn giúp cho việc mở rộng và tận dụng tối đa kênh phân phối. Cũng tương tự như khách hàng, các điểm bán hàng sẽ e ngại hơn khi phân phối những sản phẩm không nỗi tiếng. Một thương hiệu 12 mạnh sẽ hỗ trợ trong việc có được một diện tích trưng bày lớn trên kệ.
Bên cạnh đó thương hiệu lớn sẽ để dàng nhận được hợp tác của nhà phân phối trong các chương trình tiếp thị. Cuối cùng, tài sản thương hiệu còn mang lại lợi thế cạnh tranh và cụ thể là sẽ tạo ra rào cản để hạn chế sự thâm nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới, giúp doanh nghiệp có thêm thời gian đối phó với đe dọa cạnh tranh. Khi mức độ trung thành thương hiệu cao, để chuyển từ thói quen sử dụng thương hiệu này qua thương hiệu khác cần phải có thời gian và tốn chỉ phí quảng bá cho thương hiệu mới. Do vậy, khi đối thủ cạnh tranh muốn lấy khách hàng của công ty thường phải mất một khoảng thời gian nhất định để lôi kéo khách hàng.
Đây là khoảng thời gian rất quan trọng để công ty phản ứng lại sự tấn công của đối thủ bằng việc tổ chức các chương trình quảng bá và khuyến mãi để giữ khách hàng, tăng thêm động lực cho khách hàng tiếp tục sử dụng các sản phẩm của công ty, từ đó củng cố lòng trung thành của khách hàng. Ví dụ như khi lòng trung thành vé bia Sài gòn đã cao thì việc các hãng bia khác tung sản phẩm vào phân khúc bình dân cũng khá khó khăn Một khi xuất hiện loại bia mới vào phân khúc này, trong khi người tiêu dùng, cần có thời gian để chấp nhận sản phẩm đó thì bia Sài Gòn đã có những chương trình phản ứng lại dé day lùi sự tấn công của thủ. Đó là lý đo vì sao trong thời gian qua có nhiều thương hiệu bia như Bến Thành, bia Gold. thâm nhập vào phân khúc thị trường bia bình dân Việt Nam nhưng đều chưa thành công, chưa đạt thị phần như kế hoạch đặt ra.
Tài sản thương hiệu định hướng khách hàng, Bên cạnh việc mang đến giá trị cho công ty, đặc biệt tài sản thương hiệu còn mang giá trị cho khách hàng, hay còn gọi là tài sản thương hiệu định hướng khách hàng. 'Tài sản thương hiệu định hướng khách hàng theo quan điểm Aaker 13 Theo Aaker (1991, 1996): “Tai sản thương hiệu định hướng khách hàng (CBBE) là tập hợp các tài sản có và tài sản nợ liên quan đến một thương hiệu, tên và biểu. tượng của nó, làm tăng thêm hoặc trừ đi giá trị tạo ra bởi một sản phẩm hay dịch vụ cho một công ty hoặc cho khách hàng của công ty đó' Tai sản thương hiệu sẽ cộng thêm hoặc giảm bớt các giá trị mang đến cho khách hàng. Tắt cả các thành tố của tài sản thương hiệu sẽ giúp cho khách hàng có thể hiểu được cũng như lưu giữ được rất nhiều thông tin khác nhau về sản phẩm và thương hiệu.
Nó sẽ mang đến cho khách hàng sự tự tin khi lựa chọn sản phẩm (kết quả này có được do những trải nghiệm mà khách hàng có được khi sử dụng sản phẩm này trước đây). Một ví dụ, khi khách hàng mua một sản phẩm của Sony thì họ hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng vì đây là một thương hiệu nổi tiếng với chất lượng vượt trội. Có một khía cạnh quan trọng không kém đó là chất lượng cảm nhận và thuộc tính thương hiệu sẽ nâng cao hơn sự hài lòng của khách hàng mỗi khi sử dụng sản phẩm. Nếu một người sử dụng xe BMW hay Mercedes thì họ sẽ có những cảm nhận hoàn toàn khác biệt, cảm thấy mình trở nên quan trọng hơn và những cảm xúc này.
sẽ gia tăng sự hài lòng của người sử dụng đối với sản phẩm. Theo Aaker (1991), tai san thương hiệu gồm 5 thành tố chính đó là: sự trung thành thương hiệu, sự nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính thương hiệu, các yếu tố sở hữu thương hiệu khác. Việc tạo dựng tài sản thương hiệu đòi hỏi thời gian, nỗ lực và tiền bạc. Khi đã tạo được thương, hiệu mạnh nếu không duy trì thì thương hiệu sẽ nhanh chóng bị mờ nhạt.
Sự trung thành thương hiệu (Brand Loyalty) Lòng trung thành thương hiệu thường được tiếp cận ở hai góc độ là: trung thành hành vi và trung thành thái độ. Trong đó, trung thành hành vi được biểu hiện ở việc mua hàng lặp lại; còn trung thành thái độ chính là dự định mua trong tương lai, hay khi giới thiệu với người khác về sản phẩm, dịch 14 vụ. Thông thường thì việc tìm kiếm một khách hàng mới sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với việc duy trì được khách hàng cũ.