Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường Tiểu học và Trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Chương 3: Biện pháp quản lý xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG HỌC TẬP THÂN THIỆN Ở CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về xây dựng môi trường học tập thân thiện Các nhà tâm lý học Mỹ với các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng rất quan trọng của môi trường đến sự hình thành nhân cách cá nhân. Những kết quả nghiên cứu có hệ thống đã dần hình thành một chuyên ngành tâm lý học mới: Tâm lý học môi trường và thường được khái quát hóa trong các tài liệu Giáo dục học, Tâm lý học. Quan điểm chung của Khoa học giáo dục đều khẳng định vai trò quyết định của yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Tiếp đó là vấn đề nghiên cứu, xây dựng môi trường với mục đích để có ảnh hưởng tốt nhất đến dạy học và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ. Với môi trường dạy học, trước hết phải kể đến nghiên cứu của I. Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có điều kiện trong môi trường được kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động.F Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo tác dộng môi trường gần với thực tế hơn, con vật (chuột, bồ câu,.) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó. Nội dung học tập thể hiện ngay trong môi trường mà con vật phải tìm cách thích nghi.
Đây là cơ sở lý thuyết để xây dựng kiểu dạy học chương trình hóa, dạy học bằng máy. Từ nghiên cứu kết quả của hai ông, các nhà giáo dục đã nhận thức được vấn đề rất quan trọng là: Yếu tố môi trường trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người mà quan trọng hơn là yếu tố thực tế đã kích thích chủ thể (con người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn. Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục hiện đại (dẫn theo [10]). Đến đầu thế kỷ XX, Dimitri Glinos đã viết: “.Giáo dục phải thích ứng với những hoàn cảnh luôn thay đổi, đối phó với những vấn đề mới, những nhu cầu mới và thường xuyên đòi hỏi những kỹ năng mới.
Trong một thời gian dài, nền giáo dục đã không thể thích ứng được với các hoàn cảnh mới và gắn với các nhu cầu thực tế. 6 Khoảng cách giữa giáo dục và cuộc sống ngày càng lớn và bây giờ, điều chúng ta cần không chỉ là một cuộc cách mạng để tái lập lại mối tương quan giữa giáo dục và cuộc sống” (dẫn theo [15]). Emile DurKheim quan niệm môi trường học đường bao hàm cả lớp học và việc tổ chức lớp học, như một sự liên kết có phạm vi rộng hơn gia đình và không trừu tượng như xã hội, Một lớp học không đơn thuần chỉ là một khối kết dính các cá nhân độc lập với nhau mà còn làm một xã hội thu nhỏ. Trong lớp học, HS suy nghĩ, hành động và cảm nhận khác với khi chúng tách rời nhau,.
Những quan niệm trên đây đã có trước hàng thế kỷ, hiện nay đang trở thành vấn đề thời sự của khoa học giáo dục (dẫn theo [9]). Ở Việt Nam, người dân đều biết đến câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” c ng muốn nói đến mối quan hệ của con người trong giáo dục học sinh, ý nghĩa của câu tục ngữ này muốn đề cập đến mối quan hệ của môi trường giữa nhà trường-gia đình và xã hội, điều này có giá trị quan trọng khi học tập, trưởng thành và hoàn thiện nhân cách HS. Trường học thân thiện là mô hình do Quỹ nhi đồng Liên Hiệp quốc đề xướng từ thập kỷ cuối của thế kỷ trước và được triển khai có kết quả tốt ở một số quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, cùng phối hợp với UNICEF, Bộ Giáo dục và đào tạo đã làm thí điểm ở 50 trường với các cấp tiểu học, THCS, THPT toàn quốc, nay đã thực hiện ở các bậc học, cấp học.
Đường lối, chính sách của Đảng đã định hướng quan trọng ở tầm vĩ mô, chỉ đạo toàn diện công tác nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chỉ thị 40/CT-BGD&ĐT ngày 22/7/2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông những năm 2008-2013. Một số hội thảo khoa học, bài báo, các đề tài luận văn đã nghiên cứu về môi trường học tập thân thiện của HS như: Tác giả V Thị Sơn (2004) đã đề cập đến môi trường học tập trong lớp học tại Tạp chí giáo dục số 102, bài báo của tác giả Đặng Thị Thúy Hằng (2019) đề cập đến vai trò của giáo viên trong xây dựng môi trường học tập thân thiện cho HS ở nhà trường phổ thông, kết quả nghiên cứu chỉ rõ dựa trên các công trình nghiên cứu đã khái quát vai trò thông qua mô hình tiếp cận lý thuyết 7 quản lý lớp học, nêu rõ MTHT thân thiện sẽ thúc đẩy được HS và GV cùng hợp tác, vai trò của GV thể hiện qua ba khía cạnh là tạo MTHT thân thiện, tổ chức và quản lý lớp học và GV có thể xây dựng mối quan hệ tốt với HS [8]. Tác giả Nguyễn Thị Tính, Phạm Duy Hưng (2011) với bài báo “Xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường tiểu học vùng khó khăn của tỉnh Bắc Kạn” đã đánh giá thực trạng xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường tiểu học vùng khó khăn của tỉnh Bắc Kạn thông qua khảo sát CBQL, GV, HS tại 8 trường tiểu học khó khăn của huyện Ba Bể, huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn, từ đó đánh giá thực trạng, đưa ra kiến nghị cần thiết để tạo lập môi trường học tập thân thiện hơn cho HS tiểu học ở vùng khó khăn [22].
Nhóm tác giả Kiều Thị Bích Thủy và Nguyễn Trí (2006) xây dựng module “Xây dựng môi trường học tập thân thiện” đã khái quát về các nội dung, cách thức và mục tiêu xây dựng MTHT thân thiện, các tình huống thực tế và cách tiến hành xây dựng MTHT thân thiện [21]. Với kết quả nghiên cứu nghiên cứu luận văn “Biện pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” Tác giả V Nhật Quang (2010) đã đánh giá thực trạng chỉ đạo xây dựng môi trường học tập thân thiện ở các trường tiểu học huyện Tiên Yên và đề xuất 09 biện pháp cho đề tài [15]. Tác giả Phạm Duy Hưng với nghiên cứu Luận văn “Xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường tiểu học vùng khó khăn của tỉnh Bắc Kạn” (2011) đã đánh giá thực trạng xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường tiểu học vùng khó khăn của tỉnh Bắc Kạn và đề xuất 06 biện pháp cho đề tài [13]. Thông qua đề tài “Môi trường học tập thân thiện ở trường tiểu học huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng” của tác giả Nông Thị Hiếu (2011), đánh giá thực trạng môi trường học tập thân thiện ở trường tiểu học huyện Hòa An, từ đó đề xuất 07 biện pháp xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường tiểu học huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng [10].
Tác giả V Xuân Hậu (2018) với luận văn “Xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường THPT dân tộc bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” đã xây 8 dựng hệ thống lý luận về xây dựng môi trường học tập thân thiện, đánh giá thực trạng xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường THPT dân tộc bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ và đề xuất 6 biện pháp xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường THPT dân tộc bán trú tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên [9]. Các nghiên cứu về quản lý xây dựng môi trường học tập thân thiện Nghiên cứu về môi trường dạy học phải kể đến công trình của Jean Marc Denomme và Madeleine Roy về phương pháp sư phạm tương tác. Trong đó mô hình quen thuộc: Người dạy - người học - tri thức được chuyển thành: người dạy-người học-môi trường. Tác giả coi môi trường là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra các hoạt động học.
Đặc biệt tác giả đi sâu vào các yếu tố môi trường của việc học và việc dạy. Trên cơ sở đó, tác giả đã nhấn mạnh đến một quy luật quan trọng: môi trường ảnh hưởng đến người dạy, người học; người học và người dạy phải thích nghi với môi trường. Ảnh hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến môi trường. Nghiên cứu về năng lực lập kế hoạch dạy học của giáo viên dành cho giáo viên tiểu học gồm lập kế hoạch dạy học tích hợp các nội dung giáo dục tiểu học, kỹ năng lập kế hoạch bài học theo hướng dạy tích cực, thực hành thiết kế kế hoạch bài học theo hướng dạy học (dẫn theo [10]).
Tác giả Dương Thị Sim (2017) với đề tài “Quản lý môi trường học tập ở các trường tiểu học thành phố Thái Nguyên” [18], kết quả nghiên cứu đã đánh giá và phân tích thực trạng quản lý môi trường học tập ở các trường tiểu học thành phố Thái Nguyên và đề xuất gồm: nâng cao nhận thức cho đội ng CBQL và giáo viên về môi trường học tập; huy động các nguồn lực để phát triển cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường nhà trường; chỉ đạo thực hiện đầy đủ, có hiệu quả nội dung chương trình, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh, các biện pháp được khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi.