Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa công sở và tổng quan về Trường ĐH VH, TT&DL Thanh Hóa. Chương 2: Thực trạng xây dựng văn hóa công sở tại Trường ĐH VH, TT&DL Thanh Hóa. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng văn hóa công sở tại Trường ĐH VH, TT&DL Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ VÀ TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH THANH HÓA 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Văn hóa Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá. Nghĩa gốc của văn hóa là cái đẹp. Theo cách nhìn phương Đông, hình thức đẹp đẽ biểu hiện trước hết là trong lễ, nhạc, cách lãnh đạo, quản lý,… đặc biệt trong ngôn ngữ, cách ứng xử lịch sự.
Nó biểu hiện thành một hệ thống các chuẩn mức, giá trị ứng xử được mọi người chấp nhận và xem là đẹp đẽ [37]. Trong tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng của văn hóa, khái niệm văn hóa được định nghĩa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCO đưa ra một khái niệm về văn hóa vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”[68, tr.798] Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử. cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao 13 đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: Tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[25, tr.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [18, tr. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra, là “thiên nhiên thứ hai”, ở đâu có con người, quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hóa. Bản chất của văn hóa có tính người và tính xã hội.
Dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích cuộc sống. Trong luận văn này, văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, một cộng đồng người tạo dựng nên, nhằm mục đích đáp ứng và thoả mãn những nhu cầu của con người và các cộng đồng người nhất định. Công sở Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nơi phối hợp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được Nhà nước giao. Là nơi tiếp nhận đề nghị, yêu cầu, khiếu nại của dân.
Do đó, công sở là một bộ phận hợp thành thiết yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước. 14 Trong cuốn thuật ngữ hành chính của Đinh Ngọc Hiện chủ biên, thuật ngữ công sở được thể hiện là: “Pháp nhân công quyền, chịu trách nhiệm tiến hành một trong các hoạt động của các đơn vị hành chính địa phương, thay mặt cho Nhà nước, cho tỉnh, cho công xã nhưng chịu sự kiểm tra các cấp đó”. Tại điều 70 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc” [50]. Theo quan niệm này, công sở là nơi hội tụ đầy đủ mọi điều kiện, phương tiện để cán bộ công chức thực thi công vụ.
Như vậy, trong luận văn này chúng tôi hiểu công sở theo nghĩa thông thường nhất là trụ sở làm việc, là nơi diễn ra các hoạt động hành chính văn phòng của các cơ quan. Công sở là nơi cán bộ, công chức viên chức hàng ngày tiếp xúc và giải quyết những công việc liên quan đến người dân. Vì vậy, nói đến công sở là nói đến văn minh công sở, là nói đến nếp sống, đến ý thức và bản lĩnh sống của cán bộ, công chức, viên chức. Vì vậy, từ nề nếp đến phong cách làm việc và thái độ của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đều ảnh hưởng đến hiệu quả công việc 1.
Văn hóa công sở Có thể hiểu, văn hóa công sở là tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng tổ chức tạo nên sự khác biệt giữa các thành viên của tổ chức này với các thành viên của tổ chức khác. TS Trịnh Đức Thảo: “Văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước là tổng hợp các quy phạm pháp luật về trang phục, giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ và bài trí văn hóa công sở tại cơ quan hành chính nhà nước do cơ quan nhà nước có 15 thẩm quyền ban hành nhằm bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời, xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt dộng công vụ hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nguyễn Thị Thu Vân: “Nói đến văn hóa công sở tức là nói đến văn hóa của tổ chức đặc thù, có giới hạn không gian là cơ quan nhà nước và đối tượng thực hành văn hóa công sở là cán bộ, công chức. Văn hóa công sở được hiểu là hệ thống các giá trị, quy tắc giao tiếp ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, các phương thức, cách thức quản lý gắn với việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công sở, những đặc trưng riêng trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước nói chung và tại một công sở nói riêng” [72, tr.28] Theo Bộ Tài chính - Kho bạc Nhà nước, trích từ “Văn hóa công sở và giao tiếp hành chính: “Văn hóa công sở là một môi trường văn hóa đặc thù, với những giá trị chuẩn mực chi phối mọi hoạt động, mọi quan hệ của công sở cũng như đối với công dân với tư cách là một cơ quan quyền lực của Nhà nước hay một cơ quan dịch vụ công”.
Văn hóa công sở còn được cho là đồng nghĩa với văn hóa giao tiếp ứng xử trong công sở: “Văn hóa công sở được hiểu là những quy tắc, các chuẩn mực ứng xử của cán bộ công chức nhà nước với nhau và với đối tượng giao tiếp là các công dân, nhằm phát huy tối đa năng lực của những người tham gia giao tiếp để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc công sở” [44, tr. Từ các quan niệm trên, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm văn hóa công sở của bộ tài chính năm 2011 như sau: Văn hóa công sở là một môi trường văn hóa đặc thù, với những giá trị chuẩn mực chi phối mọi hoạt động, mọi quan hệ của công sở cũng như đối với công dân với tư cách là một cơ quan quyền lực của Nhà nước hay một cơ quan dịch vụ công. Văn hóa công sở trong nhà trường Văn hóa công sở trong nhà trường là tổng hợp hệ thống các giá trị được các thành viên trong nhà trường bảo tồn, duy trì và phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý, thái độ giao tiếp, ứng xử… không khí làm việc và được mỗi thành viên trong nhà trường chấp nhận. Xây dựng nền văn hoá công sở trong nhà trường là xây dựng nền nếp làm việc khoa học, kỷ cương, thực hiện các chuẩn mực đạo đức, tác phong nghề nghiệp góp phần tạo nên sự đoàn kết, chống lại sự lệch lạc, quan liêu, tạo nên niềm tin của người học, của cộng đồng với nhà trường, góp phần nâng cao vai trò, hiệu quả, thương hiệu của nhà trường.
Nói cách khác văn hóa học đường giống như một tảng băng trôi bao gồm bề nổi, phần hữu hình là các chuẩn mực được hiện hữu hóa và quy tắc hóa trong đời sống làm việc và phần chìm là giá trị, niềm tin, kỳ vọng, khó nhìn thấy trực tiếp bằng mắt thường nhưng lại quyết định toàn bộ phần nổi. Nhà trường là một tổ chức, do đó văn hoá nhà trường là văn hoá của một tổ chức hành chính - sư phạm. “Nói tới VHCS trong nhà trường là nói tới toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một nhà trường. Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý,.
bầu không khí tâm lý. Thể hiện thành hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử… được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp nhận”.