Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGUỒN NHÂN LỰC SÂN KHẤU KỊCH TP. HỒ CHÍ MINH 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Khái niệm Quản lý Quản lý đƣợc giải thích nhƣ là một nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhƣng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc.
Nhƣ vậy có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý. “Quản lý” là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lý luận và nghiên cứu khoa học. Xét trên phƣơng diện của nghĩa từ, quản lý thƣờng đƣợc hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với phƣơng thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con ngƣời thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt. Có thể kể ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý. Để hình thành nên hoạt động quản lý trƣớc tiên cấn có chủ thể quản lý: ai là ngƣời quản lý? Sau đó cần xác định đối tƣợng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có đƣợc ba yếu tố trên nghĩa là có đƣợc điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý.
Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lý nào cũng là hoạt động độc lập, nó cần đƣợc tiến hành trong môi trƣờng, điều kiện nhất định nào đó [11, tr. 17 Trong Lý luận quản lý nhà nước, GS. Mai Văn Khuê đã định nghĩa: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào một đối tƣợng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con ngƣời, nhằm duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối tƣợng theo những mục tiêu đã định” [13, tr. Do tính chất xã hội của lao động con ngƣời, quản lý là một biện pháp cần thiết đối với nhiều lĩnh vực, nó có tính chất quyết định cho sự thành bại của chủ thể.
Vì vậy cần có sự quản lý để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa những ngƣời trong một tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội, nhằm đạt mục tiêu nhất định. Quản lý là một khoa học, trong đó quản lý: Dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tƣợng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội. Đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật. Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con ngƣời và đang thực hiện qua những thể xã hội đặc biệt.
Mục đích, nội dung cơ chế và phƣơng pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị - xã hội [11, tr. Trong quá trình tiến bộ xã hội, những hình thức quản lý có ý thức đã có những biến đổi sâu sắc - từ việc quản lý xã hội nguyên thủy bằng những truyền thống và tập quán, đến việc quản lý một cách tự giác và khoa học sự phát triển của xã hội tiến dần lên trình độ phát triển cao. Quản lý thƣờng đƣợc hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.TS Bùi Hoài Sơn: “Để tiến hành công việc quản lý chúng ta phải dựa vào các phƣơng tiện và chính sách về luật pháp, tài chính, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực v.v… để đạt đƣợc mục tiêu quản lý đề ra” [11, tr. 18 Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩ hẹp.
Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, lý giải khác nhau. Theo ngƣời viết; Phƣơng thức quản lý là cách thức và phƣơng pháp tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Quản lý văn hóa Nhà nƣớc quản lý văn hóa thông qua việc ban hành tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa. Theo UNESCO, chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thức thực hành, các phƣơng pháp quản lý hành chính và giải pháp về ngân sách của nhà nƣớc dung làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa “Trong lĩnh vực hoạch định chính sách quốc gia, ngƣời ta đều coi chính sách nghệ thuật là chính sách văn hóa và khái niệm “chính sách văn hóa” đƣợc thế giới sử dụng thông dụng và chính thức hơn” [46, tr30].
Về cơ bản, quản lý nhà nƣớc về văn hóa là quá trình tác động đến mọi hoạt động văn hoá trong đời sống xã hội của con ngƣời dƣới nhiều hình thức, từ bộ máy tổ chức, cơ chế phối hợp các bộ, ban, ngành, đoàn thể; từ hoạch định chiến lƣợc lâu dài, xác lập hệ thống pháp luật ở tầm quốc gia đến việc xây dựng và thực thi các chính sách văn hoá phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng lĩnh vực văn hoá ở các thời điểm và địa bàn khác nhau. Mục tiêu của quản lý văn hóa ở nƣớc ta là nhằm thúc đẩy nền văn hóa của đất nƣớc ta, của nhân dân ta không ngừng lớn mạnh, ngày càng mang đậm tính chất nhân văn, dân tộc và hiện đại, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội. Khái niệm nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực con ngƣời” hay” nguồn nhân lực”, là khái niệm đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con ngƣời với tƣ cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: các công trình nghiên cứu trên thế 19 giới và trong nƣớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” (human resourses) xuất hiện vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ XX bắt nguồn từ sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh tế lao động trƣớc đây, quan niệm về nguồn nhân lực quản lý nguồn nhân lực (personnel management) này có khác đôi chút, ngƣời ta quan tâm đến việc xem nhân viên là một lực lƣợng thừa hành, phụ thuộc, bị khai thác sức lao động.
Quan niệm mới hiện nay nhìn nhận vấn đề này nhẹ nhàng hơn, thân thiện hơn đó là việc tạo điều kiện tối đa để ngƣời lao động phát huy hết tiềm năng vốn có của họ qua quá trình lao động sản xuất [22]. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ nguồn nhân lực là một trong những biểu hiện cụ thể cho việc thực hiện một phƣơng thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con ngƣời. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển các tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [35, tr. Cách hiểu nguồn nhân lực theo định nghĩa nhƣ trên xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên nguồn lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức.
Theo tổ chức Liên Hợp Quốc khi đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đƣa ra định nghĩa liên quan đến nguồn nhân lực. Theo đó nguồn nhân lực đƣợc hiểu là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dƣới dạng tiềm năng con ngƣời. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hƣớng tiếp cận này có phần thiên về đánh giá chất lƣợng của nguồn nhân lực. Trong đó việc đánh giá cao 20 là xem tài năng của con ngƣời cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thực hiện trong quản lý, sử dụng.
Quan niệm về nguồn nhân lực nhƣ vậy cho ta thấy phần nào sự tán đồng của Liên Hợp Quốc đối với phƣơng thức quản lý mới. Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con ngƣời tích lũy đƣợc, nó đƣợc đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai. Cũng giống nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tƣ trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tƣơng lai” [7, tr. Phạm Minh Hạc cho rằng “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng, tức là nguồn lao động đƣợc chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những ngƣời lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa hiện đại hóa” [17, tr.
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phƣơng, một quốc gia trong tổng thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của xã hội của con ngƣời thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con ngƣời biến thành nguồn vốn con ngƣời đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lƣợng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa. Nhƣ vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con ngƣời không chỉ đơn thuần là là lực lƣợng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của một cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia đƣợc đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.