Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp NQD tại Chi cục thuế Thị xã Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Thị xã Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Lý luận về quản lý thuế TNDN ngoài quốc doanh 1. Khái quát chung về doanh nghiệp ngoài quốc doanh a.
Khái niệm doanh nghiệp NQD Theo Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Như vậy Doanh nghiệp ngoài quốc doanh được hiểu là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh được thành lập, đầu tư và tổ chức quản lý, không có phần vốn của Nhà nước. Đặc điểm của doanh nghiệp NQD - Doanh nghiệp NQD do các cá nhân, tổ chức sử dụng nguồn vốn của cá nhân hoặc một số cá nhân đóng góp để hoạt động sản xuất kinh doanh. - Mục tiêu lớn nhất của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, vì vậy các doanh nghiệp rất nhanh nhạy trong đầu tư.
Để đạt được mục đích họ có thể xem thường pháp luật kể cả trốn thuế, gây ô nhiễm môi trường. gây hậu quả cho sự phát triển bền vững của xã hội. - Doanh nghiệp NQD mang tính chất sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối lợi nhuận, hiệu quả của sản xuất gắn liền với quyền lợi cá nhân của chủ doanh nghiệp. 6 - Quy mô của doanh nghiệp NQD chủ yếu là vừa và nhỏ, vốn ít, cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt, thích ứng nhanh với các thay đổi của môi trường kinh doanh và sự phát triển của khoa học kỹ thuật.
Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh * Xét về bản chất kinh tế của chủ sở hữu, doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: - Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động của doanh nghiệp. - Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người nắm giữ được gọi là cổ đông, Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; ) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ một số trường hợp. - Công ty trách nhiệm hữu hạn (trừ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhà nước): được thành lập trên vốn của chủ sở hữu và chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên. - Công ty hợp danh: là loại hình công ty có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài thành viên hợp danh còn có thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân và có trình độ chuyên môn, uy tín, nghề nghiệp trong loại hình kinh doanh mà doanh nghiệp đăng ký. Các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi kết quả hoạt động của công ty. * Xét theo lĩnh vực hoạt động, doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: - Doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất - Doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại * Xét về quy mô vốn, doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: 7 - Doanh nghiệp lớn: là những doanh nghiệp có vốn kinh doanh trên 100 tỷ và có số lao động trung bình hàng năm trên 300 lao động. - Doanh nghiệp vừa: là những doanh nghiệp có vốn kinh doanh từ 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng và có số lao động trung bình từ trên 10 người đến 200 người.
- Doanh nghiệp nhỏ: là những doanh nghiệp có vốn kinh doanh từ 20 tỷ đồng trở xuống và có số lao động trung bình từ trên 10 người đến 200 người. - Doanh nghiệp siêu nhỏ: là những doanh nghiệp có số lao động từ 10 người trở xuống. Vai trò của doanh nghiệp NQD Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu, sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp NQD đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội, đóng vai trò quan trọng góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. - Doanh nghiệp NQD góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Doanh nghiệp NQD là khu vực kinh tế năng động, hoạt động kinh doanh nhiều lĩnh vực lại rất linh hoạt, nhanh nhạy trong sản xuất kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận cho nên khu vực này có khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Do đó doanh nghiệp NQD có vai trò hết sức quan trọng góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế do Nhà nước đề ra. - Doanh nghiệp NQD góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế. - Doanh nghiệp NQD tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn định và ngày càng gia tăng: Những năm gần đây doanh nghiệp NQD phát triển nhanh và mạnh kể cả về số lượng và quy mô hoạt động nên nguồn thu từ khu vực này ngày càng tăng đảm bảo cho Nhà nước thực hiện được các chương trình mục 8 tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế phát triển chậm.đồng thời có nguồn tài chính để tham gia các chương trình nhân đạo trong nước và quốc tế. Do vậy nếu có cơ chế quản lý tốt thì mức đóng góp từ các doanh nghiệp này sẽ ổn định và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN.
- Doanh nghiệp NQD góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thực hiện công bằng xã hội. - Doanh nghiệp NQD góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội: Doanh nghiệp NQD là khu vực có tiềm năng lớn về vốn, sự phát triển của doanh nghiệp NQD tạo ra một thị trường vốn lớn, đa dạng và là tiềm năng cho thị trường tài chính, tín dụng phát triển. - Doanh nghiệp NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh cho nền kinh tế thị trường, thúc đẩy kinh tế Nhà nước đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời còn có mối quan hệ hợp tác với khu vực kinh tế Nhà nước để sản phẩm sản xuất ra được hoàn thiện với chất lượng cao hơn.
Vậy hợp tác và cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của hai khu vực kinh tế này. - Doanh nghiệp NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào cơ chế quản lý làm thay đổi phương thức quản lý sản xuất kinh doanh, thay đổi tác phong, lề lối làm việc của cán bộ công chức nhà nước, của người lao động. - Doanh nghiệp NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính sao cho ngày càng phù hợp với xu thế quốc tế hóa và hội nhập hiện nay. Một số vấn đề về sắc thuế TNDN 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế TNDN a. Khái niệm thuế TNDN Thuế Thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế và được nhiều quốc gia áp dụng. Anh và Nhật Bản là những nước 9 đầu tiên áp dụng sắc thuế này từ những năm khoảng giữa và cuối thế kỷ XIX, một số nước khác áp dụng vào khoảng đầu thế kỷ XX như Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô cũ, Trung Quốc … Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế TNDN là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Trường nghiệp vụ thuế (Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên thuế , 2017, Tr. 278) nêu rõ “Thuế Thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh”. Ở Việt Nam, thuế TNDN có xuất xứ từ khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế Lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ năm 1953 đến trước ngày 01/01/1990. Giai đoạn từ 01/01/1990 đến trước ngày 01/01/1999 thuế Lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế.
Năm 1997 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp đầu tiên được ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần, mới nhất là Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế trong đó có sửa đổi, bổ sung Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, nhằm tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh phù hợp với thực tiễn nước ta và thông lệ quốc tế.