phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sởlý luận và thực tiễnvề quản lý tài chính tại trƣờng đại học công lập Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Trƣờng Đại Học Hà Tĩnh Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng quản lý tài chính tại Trƣờng Đại học Hà Tĩnh. 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu trong nước Ở Việt nam, các công trình nghiên cứu về quản lý tài chính tại các doanh nghiệp thì có nhiều.
Các tác giả tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau nhƣ: quản lý tài sản,quản lý nguồn vốn, quản lý các khoản đầu tƣ,…Các công trìnhliên quan đến quản lý tàichính đƣợc công bố trƣớc năm 2000, chủ yếu đƣa ra các lý thuyết mang tính hàn lâm, ít cógiải pháp cụ thể mang tính ứng dụng. Năm 2003, đề tài luận án Tiến sĩ “Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tài chính tại hệ thống kho bạc Nhà nước ở Việt nam” của tác giả Lê Hùng Sơn (2003) hay “Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp tư nhân”. Với các đềtài này, các tác giả phân tích từ khái niệm “quản lý tài chính”, tuy nhiên các tác giả cho rằng, quản lý tài chính là chỉ đơn thuần là quản lý thu - chi. Song theo học thuyết quản lý tài chính của Ezra Solomon[92] - Học thuyết mà tác giả sử dụng để phân tích những lý thuyết cơ bản liên quan trong luận án, cho thấy việc quản lý tài chính không chỉ quản lý thu - chi mà còn phải quản lý cho cả giai đoạn lập dự toán và quyết toán, phân tích kế hoạch triển khai(Học thuyết quản lý tài chính - Ezra Solomon), quản lý các mối quan hệ phát sinh giữa chủ thể trong nền kinh tế xã hội, trong mối quan hệ về tiền tề.
Bài viết “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường phổ thông Hà Nội”của tác giả Nguyễn Duy Phong[58]đi tìm giải pháp để quản lý tài chính của các trƣờng phổ thông. Đề tài mà nghiên cứu sinh đang nghiên 4 z cứu cũng dành cho khối các trƣờng học, tuy nhiên, chúng ta không thể mang những cách thức quản lý đối với trƣờng phổ thông áp dụng cho trƣờng đại học đƣợc. Hơn nữa, tác giả Phong chỉ tập trung phân tích cơ chế quản lý tác động đến hiệu quả quản lý của các trƣờng phổ thông trên một địa bàn. Cũng gần với nội dung nghiên cứu sinh đang tìm hiểu, năm 2008, luận án của tác giả Nguyễn Anh Thái -Học viện tài chínhđã đƣợc bảo vệvới đề tài “Hoàn thiện cơ chế quảnlý tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam” [64].
Nếu nhƣ, công trình của tác giả Nguyễn Duy Phong, tác giả đề xuất giải pháp quản lý tài chính cho khối các trƣờng phổ thông, thìtác giả Nguyễn Anh Thái tập trung phân tích nội dung cơ chế chính sách để quảnlý tài chính đối với các trƣờng đại học nói chung. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dành cho các trƣờng đại học mà tác giả Nguyễn Anh Thái mang tính hàn lâm, nặng vềlý thuyết. Tác giả đã dừng lại ở việc nêu vấn đề: tạo nguồn tài chính đa dạng cho đào tạo, xây dựng cơ chế kiểm soát, chính sách học phí, học bổng, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máyquản lý đối với các trƣờng đại học, mà chƣa luận giải sâu sắc. Đề tài cấp bộ năm 2005 của tác giả PGS.TS Vũ Duy Hào - khoa Ngân hàng Tài chính - Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập khối kinh tế ở Việt nam”.
Nội dung nghiên cứu của tác giả đƣợc xác định là cơ chế quản lý tài chính và chỉ nghiên cứu trong phạm vi các trƣờng đại học công lập khối kinh tế. Trên cơ sở đó nhóm công sự của PGS.TS Vũ Duy Hào đã khảo sát, phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với các trƣờng đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ hạn chế và nguyên nhân trong cơ chế quản lý tài chính hiện hành. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chếquản lý tài chính đối với các trƣờng đại học công lập khối kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Một trong số các giải 5 z pháp tác giả đề ra, tác giả cũng đã đề cập đến “nhà nước cần xem xét việc thực hiện thí điểm cơ chế tự chủ tài chính đối vớimột số trường lớn, có uy tín”.
Tuynhiên, vào thời điểm năm 2005, mọi điều kiện cơ chế, chính sách Nhà nƣớc đƣa ra ở mứcđộ hạn chế nên tác giả mới chỉ đƣa ra là “thực hiện thí điểm” cơ chế tự chủ. Một công trình khác, nghiên cứu mang tính hệ thống, khá đầy đủ và “gần” với lĩnh vực nghiên cứu của tác giả đang nghiên cứu phải kể đến đề tài cấp bộ năm 2007 của nhóm tácgiả do GS.TS Mai Ngọc Cƣờng (2007) - chủ nhiệm đề tài - Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân“Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiệntự chủ về tài chính ở các trường đại học Việt Nam”[39]. Tác giả đã tập trung đánh giá thực trạng các điều kiện tự chủ tài chính của các trƣờng đạihọc công lập hiện nay; chỉ ranhững thành tựu, hạn chế vànguyên nhân của các trƣờng đại học công lập; đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các điều kiện tự chủ tài chính trong các trƣờng công lập. Đâylà một công trình đồ sộ về số lƣợng và nghiên cứu khá toàn diện vấn đề liên quan đến tự chủ tài chính.
Tuy nhiên, theo tác giả tự chủ tài chính là một trong những phƣơng cách để tăng cƣờng quản lý tài chính và chia sẻ gánh nặng với Nhà nƣớc về trách nhiệm của cácđối tƣợng khác trong xã hội về phát triển sự nghiệp giáo dục. Song một trong những điểm cơ bản để có thể tự chủ đƣợc thì cần quản lý tài chính nhƣ thế nào, xây dựng quy trìnhquản lý ra sao, tiêu chí để đánh giá một trƣờng đại học công lập có khả năng tự chủ hay không thì trong đề tài tác giả không đề cập tới. Nhƣ vậy, một loạt các công trình nghiên cứu nói trên cũng có một số công trình trên bàn đến vấn đề quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu, song đi sâu vào nghiên cứu quản lý tài chính riêng biệt đối với các trƣờng công lập, đặc biệt trong cơchế tự chủ tài chính,cầnthiết lậpđƣợcđiềukiện tự chủ tài chính các trƣờng đại học công lập,hay xây dựng một hệ thống chỉ tiêu 6 z đánh giá quản lý tài chính các trƣờng đại họccông lậpcòn mới mẻ và chƣa thật sự phân tích sâu vào vấn đề. Đề tài mà ngƣời nghiên cứu chọn dựa trên tính kế thừa, phát triển và đƣa ra điểm mới so với các đề tài trƣớc đây.
Nghiên cứu nước ngoài Tại những các nƣớc có nền kinh tế phát triển cao nhất thế giới, giáo dục đào tạo gần nhƣ đƣợc Nhà nƣớc bao cấp hoàn toàn qua ngân sách nhà nƣớc. Bởi chỉ có Nhà nƣớc mới có thẩm quyền, uy tín, tài lực đảm đƣơng tính công bằng dân chủ của quốc sách giáo dục: ai cũng có thể đi học, đạt trình độ nếu có năng lực. Tại nƣớc Mỹ, từ năm 1994 Ủy ban chuẩnmựckế toán đã đƣa ra các chuẩn mực về kế toán chi phí áp dụng cho các cơ sở đào tạo có nhậnmột mức tài trợ nhất định từ Chính phủ liên bang. Các chuẩn mực này nhằm bảo đảm các cơ sở đàotạo đó thực hiện mộtcách nhất quán các thủ tục và chính sách về kế toán chi phí đồng thời tuân thủ các qui định liên quan của Chính phủ.
Tại nƣớc Anh, Ủy ban bảo trợ đại học (UGC) giữ vai trò phân bổ ngân sách giáo dục cho các trƣờng đại học. Để thực hiện vai trò này, ngoài việc dựa vào các dữ liệu thống kê (số lƣợng sinh viên, giảng viên…), UGC còn phân tích chi phí vàthu nhập của các trƣờng đại học dựa vào các chỉ tiêukết quả hoạt động (thị phần đào tạo, tỷ lệ tốt nghiệp…). Ở Nhật Bản: các trƣờng đại học hoàn toàn tự chủ trong việc cân đối chi phí, cạnh tranh trong việc nâng cao chất lƣợng Giáo dục, giảm tiền học phí hấp dẫn sinh viên và tăng cƣờng đào tạo nguồn lực, cùng với việc thu hút các Giáo sƣ, Giảng viên giỏi bằng chế độ lƣơng cao (nguồn kinh phí lấy từ các nguồn tài trợ các doanh nghiệp),hiện đại hóa điều kiện làm việc, mở rộng các chức năng sáng nghiệp, từ tƣ duy sáng tạo sang hiện thực dự án để hành động thực tiễn, thông qua việc tập đoàn hóa bằng việc liên kết bắt tay giữa các Trƣờng Đại học, các doanh nghiệp và cộng đồng (khách hàng). 7 z Tại Trung Quốc: Ngay từ năm 1991,khi nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu cải tổ, chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, Nhà nƣớc Trung Quốc đã nhận ra tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế đất nƣớc và vào thời điểmđó,ngày15/4/1991, Shengliang Deng, Trƣờng Đại học Saskatchewan, Saskatoon, Trung Quốc và Yinglou Wang, Trƣờng Đại học Giao thông Tây An,Trung quốc, tác giả của bài “Quản lý giáo dục ở Trung Quốc: Quá khứ, hiện tại và tƣơng lai” đã thuyết phục ngƣời đọc rằng: Quản lý giáo dục ở Trung Quốc đã đạt đƣợc nhiều thành tựu và là cơ sở cho quá trình phát triển, cải tổ kinh tế.
Tuy nhiên, quản lý giáo dục ở Trung Quốc vẫn đối mặt với nhữngvấn đề nghiêm trọng nhƣ: sự thiếu hụt giáo viên có đủ điều kiện, chƣơng trình giảng dạykhông tƣơng xứng, điều kiện làm việc của giáo viên còn thiếu và trệch hƣớng đi so với nhucầu của xã hội. Tất cả những vấn đề đó đe dọa tới sự cải tổ kinh tế Trung Quốc. Bởi vì, chỉ có đào tạo ra những con ngƣời tốt mới là nền tảng cho sự thành công của các doanh nghiệp vàtạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Từ cơ sở đó, bài báo đã tổng quan lại hệ thống quản lý giáo dục của Trung Quốc, thảo luận những vấn đề hiện tại và đề ra những giải pháp cho quản lý giáo dục Trung Quốc.
Hai tác giả nhấn mạnh quản lý giáo dục là quản lý trên nhiều mặt (điểm khác với phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu sinh): giáo viên, học sinh, sinh viên và ngƣời lãnh đạo các cấp của giáo dục, tài chính dành cho giáo dục.