Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI XÂM NHẬP MẶN 1.1 Một số khái niệm: 1.1 Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn Biến đổi khí hậu: Có nhiều quan niệm về biến đổi khí hậu được đưa ra, nhìn chung biến đổi khí hậu được hiểu như sau: Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, biến đổi khí hậu là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, nguyên nhân chủ yếu do các loại khí nhà kính được phát thải từ hoạt động của con người [4]. Quan điểm của Viện Môi Trường và Phát Triển Quốc Tế (IIED) cho rằng, biến đổi khí hậu là sự thay đổi hình thái thời tiết và nhiệt độ trong một khoảng thời gian ngắn, trung, hoặc dài hạn mà đã xảy ra hoặc dự báo sẽ xảy ra phần lớn do hiệu ứng khí nhà kính được sản sinh ra từ hoạt động của con người. Hay biến đổi khí hậu là sự biến đổi các giá trị trung bình nhiều năm của các yếu tố khí tượng, như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng nước bốc hơi của khí quyển trên trái đất [19]. Công ước khung của Liên Hiệp Quốc đưa ra khái niệm: biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong thời kỳ có thể so sánh được [9].
Biểu hiện của biến đổi khí hậu đó là sự thay đổi về nhiệt độ, xói mòn, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan … Nguyên nhân của biến đổi khí hậu do hai yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Nguyên nhân khách quan là do sự biến đổi của tự nhiên như: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đổi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí và quy mô các châu lục, sự biến đổi các dòng hải lưu, sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển. Nguyên nhân chủ quan là do con người, xuất phát từ sự thay đổi mục đích sử 9 dụng đất và nguồn nước, và sự gia tăng lượng phát thải khí CO2 và khí nhà kính từ các hoạt động con người. Các nghiên cứu rằng nguyên nhân do con người là chủ yếu: biến đổi khí hậu 90% do con người tạo ra [19].
Chính lượng phát thải nhà kính từ các hoạt động giao thông, công nghiệp, sử dụng năng lượng,… đang góp phần làm tăng thêm sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng. Ước tính lượng phát thải của Việt Nam đạt 120,8 triệu tấn và với tình hình phát triển kinh tế hiện nay, lượng phát thải này sẽ còn tăng mạnh trong thời gian tới [9]. Ngoài ra các hoạt động canh tác cũng làm góp phần làm suy thoái môi trường tự nhiên. Xâm nhập mặn: Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới [8], chỉ có 2,5% tổng lượng nước trên trái đất là nước ngọt, còn lại là nước mặn.
Nguồn nước ngọt lớn nhất nằm dưới lòng đất và một phần nước mặt nằm rải rác ở nhiều khu vực trên thế giới. Nước ngầm được sử dụng rộng rãi để bổ sung cho nguồn nước mặt nhằm đáp ứng nhu cầu nước ngày càng tăng. Tuy nhiên, một trong những vấn đề đối với hệ thống nước ngầm ở những vùng ven biển chính là xâm nhập mặn. Xâm nhập mặn là quá trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biển bằng nước mặn do sự dịch chuyển của khối nước mặn vào tầng nước ngọt.
Theo Nguyễn Chu Hồi (2001), sự xâm nhập mặn của nước biển sông được giải thích là do mùa khô, nước sông cạn kiệt khiến nước biển theo các sông, kênh dẫn tràn vào gây mặn. Hiện tượng tự nhiên này xảy ra hằng năm và do đó có thể dự báo trước. Nhưng bên cạnh đó, những vùng đất ven biển cũng có nguy cơ nhiễm mặn do thẩm thấu hoặc do tiềm sinh. Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dưới lòng đất ở các tầng chứa nước ven biển do cả hai quá trình tự nhiên và con người gây ra.
Độ mặn là thước đo hàm lượng muối hòa tan trong nước. Thường được biểu diễn bằng phần nghìn (ppt) hoặc tỷ lệ phần trăm (%).1 khái quát về các loại nước của Việt Nam và Bảng 1.2 là phân loại nước mặn đối với con người và cây trồng. Phân loại nước ở Việt Nam theo hàm lượng muối (đơn vị đo: ppt) Nước ngọt Nước lợ Nước mặn Nước muối <1 1-10 >10 hoặc <30 >50 Nguồn: https://vi.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_m%E1%BA%B7n Bảng 1. Phân loại nước mặn đối với con người và cây trồng Kiểu nước mặn Hàm lượng (ppt) Nước biển 35 Độ mặn uống được tối đa cho người 3 Độ mặn thích hợp cho người 0,5 tới 0,75 Sinh vật trong sa mạc Nhỏ hơn 15; tối đa 25 - Nhỏ hơn 0,75: không có rủi ro mặn hóa - 0,75 - 1,5: giảm năng suất các cây trồng nhạy cảm mặn Nước tưới (đối với tưới tiêu và các điều - 1,5 - 3,5: giảm năng suất nhiều loại các kiện đất đai tối ưu) cây trồng - 3,5 - 6,5: chỉ có cây trồng chịu mặn - 6,5 - 8,0: giảm năng suất các cây trồng chịu mặn Nguồn: https://vi.org/wiki/N%C6%B0%E1%BB%9Bc_m%E1%BA%B7n Những yếu tố ảnh hưởng đến xâm nhập mặn: Trong tự nhiên, bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn hiếm khi ổn định.
Quá trình bổ sung nước hoặc khai thác nguồn nước ngầm đều dẫn đến sự dịch chuyển bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn từ vị trí này sang vị trí khác. Sự dịch chuyển đó có thể làm mực nước dâng lên hoặc hạ xuống tùy thuộc vào việc nước ngọt đổ vào tầng ngậm nước tăng hay giảm. Do đó, sự thay đổi lượng nước ngầm gây ảnh hưởng trực tiếp đến xâm nhập mặn. Tình trạng này sẽ tăng nhanh hơn nếu giảm bổ sung nước ngầm.
11 Những thay đổi do biến đổi khí hậu như lượng mưa và nhiệt độ, thay đổi mục đích sử dụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ bổ sung nước ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nước, gây ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn [5]. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng sâu sắc đến chu trình thủy văn thông qua thay đổi mô hình lượng mưa, lượng nước bốc hơi và độ ẩm của đất. Lượng mưa có thể tăng hoặc giảm và phân bố không đồng đều trên toàn cầu. Hiện tượng này sẽ làm thay đổi lượng nước ngầm được bổ sung, đồng thời thay đổi tốc độ xâm nhập mặn vào tầng ngậm nước ven biển.
Vì vậy, thông tin về các tác động của biến đổi khí hậu ở địa phương hoặc khu vực, các quá trình thủy văn và tài nguyên nước ven biển trở nên rất quan trọng. Ảnh hưởng của quá trình thay đổi mục đích sử dụng đất: Các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng đất và quản lý đất cũng có thể làm thay đổi trực tiếp đến hệ thống thủy văn, chế độ bốc hơi nước và dòng chảy. Do đó, sử dụng đất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguồn nước ngầm [8]. Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào các sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô.
Khi đó lượng nước từ sông đổ ra biển giảm, thủy triều từ biển sẽ mang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn. Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến sâu vào đồng bằng [17]. Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: - Lượng nước từ thượng nguồn đổ về, lưu lượng càng giảm, nước mặn càng tiến sâu vào đất liền. - Biên độ triều vùng cửa sông: vào giai đoạn triều cường, nước mặn càng lấn sâu vào.
- Địa hình: Địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn. 12 - Các yếu tố khí tượng: Gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa ít,. sẽ là tác nhân làm nước mặn lấn sâu vào nội địa. - Hoạt động kinh tế của con người: Nhu cầu sử dụng nước ngọt vào mùa khô tăng sẽ làm giảm nguồn nước ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn [17].2 Quản lý và quản lý nhà nước về nông ghiệp Quản lý: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định. Quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức.
- Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội. - Đối tượng quản lý: tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. - Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước.
Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó là: con người; hệ thống và tư tưởng chính trị; tổ chức; thông tin; văn hóa… Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. 13 Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.