Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý công tác phối hợp của nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác phối hợp của nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác phối hợp của nhà trường với gia đình ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỐI HỢP CỦA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH TIỂU HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục mang bản chất xã hội, là một trong các chất kết dính cộng đồng, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của giáo dục không thể tách rời với sự phát triển của cộng đồng cũng như sự phát triển của kinh tế - xã hội. Trong quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ, cha mẹ đóng vai trò quan trọng, vai trò của nhà trường cũng hết sức quan trọng để trẻ phát triển một cách toàn diện, vì vậy sự phối kết hợp của nhà trường với GĐ là một yếu tố không thể thiếu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phối hợp giữa nhà trường với GĐ trong giáo dục HS bằng sách báo nước ngoài như: Dự án nghiên cứu về GĐ của đại học giáo dục Harvard khẳng định: Để nâng cao thành công giáo dục trẻ trong mọi độ tuổi cần có sự tham gia của GĐ. Tác giả cuốn sách “Lý luận dạy học” J.
Comenxki (1592-1670) đã chỉ ra tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa nhà trường và GĐ trong quá trình giáo dục trẻ. Ông khẳng định lòng ham học của trẻ bắt nguồn từ sự kích thích của thầy cô giáo và bố mẹ chúng. Ông cũng nêu lên vai trò của giáo dục và GĐ: “Bổn phận của cha mẹ là cùng nhau chăm lo, dạy bảo con cái. Mục đích đặt ra là làm sao để nuôi dạy cho con cái trưởng thành biết chăm lo cho bản thân và cho cả người khác”.
Như vậy, sự phối hợp giữa nhà trường với GĐ là điều quan trọng và không thể thiếu trong việc giáo dục HS.Xukhomlinxki (1918- 1970) đã khẳng định nếu GĐ và nhà trường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng “GĐ một đường, nhà e 9 trường một nẻo”. Theo ông Alan Johnson, bộ trưởng bộ giáo dục nước Anh đã nói tại một hội nghị ở Anh và ông cho rằng cha mẹ không thể phó mặc việc giáo dục, chăm sóc con em mình cho nhà trường. Ngược lại các bậc phụ huynh đóng vai trò rất quan trọng, thậm chí sẽ mang lại một khác biệt lớn so với những kết quả mà đạt được từ trường học. Theo ông Johnson, việc giáo dục con trẻ tuy là vấn đề riêng tư của mỗi GĐ nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến xã hội sau này.
Nghiên cứu ở trong nước Hiện nay, để giáo dục phát triển đáp ứng với yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường GĐ và xã hội, làm sao để kết hợp ba môi trường lại với nhau đồng bộ và coi đó là nguyên tắc cơ bản đề đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường. Đó là ba môi trường giáo dục quan trọng tạo thành thế “chân kiềng” vững chắc để cùng giáo dục, hình thành nhân cách và vun đắp sự trưởng thành của một con người, nguyên lý giáo dục ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong GĐ, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong GĐ và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Luật giáo dục và nhiều văn bản pháp luật khác đã xác định nội hàm của khái niệm xã hội hóa. Ý nghĩa phổ biến nhất là tổ chức cho toàn xã hội làm giáo dục: Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục.
Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy có hiệu quả các nguồn lực, tạo điều kiện cho các hoạt e 10 động giáo dục - đào tạo phát triển nhanh, bền vững và có chất lượng cao. Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005-2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT chỉ rõ: Thực hiện xã hội hóa giáo dục nhằm phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội được hưởng thụ thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao. Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội.
Phát huy có hiệu quả các nguồn lực, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục - đào tạo phát triển nhanh, bền vững và có chất lượng cao. Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục, nghĩa phổ biến nhất là tổ chức cho toàn xã hội làm giáo dục. Việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng nền giáo dục là cần thiết. Với tư tưởng “lấy dân làm gốc”, Đảng đã vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp giáo dục của nước nhà.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII chỉ rõ: “Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”. Đến Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX, Đảng ta khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục”. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI [2] về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền e 11 GD&ĐT trong hệ thống chính trị, ngành GD&ĐT và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao, coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu. Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng GD&ĐT của đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; GĐ có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình”.
“Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của GĐ, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới tất cả các bậc học, ngành học.” Nghị định số 20/2014/NQ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ [27]. Nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của GĐ và sự phối hợp giữa nhà trường với GĐ và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ như: “Giáo dục GĐ ” - Th.s Phạm Thị Thu Hồng [20] – khoa Mac – Lê Nin - trường Đại học An Giang – năm 2005, “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” Hà Nhật Thăng [38] nhà xuất bản Hà Nội – 1997. “Văn hoá GĐ với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” - 1997 Võ Thị Cúc [13], “ Xã hội hoá công tác giáo dục” Phạm Minh Hạc tổng chủ biên [17], “Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” - Hà Thế Ngữ [28] … Thời gian qua một số luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục cũng đã tiến hành nghiên cứu, nhằm tìm biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, GĐ và xã hội trong việc chăm lo cho công tác giáo dục như: e 12 Luận văn “Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường - GĐ trong công tác giáo dục HS ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An” của tác giả Hồ Văn Thơm [40] chủ yếu nghiên cứu về thực trạng quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường – GĐ nhằm tìm ra những giải pháp mới, khả thi hơn tạo điều kiện phát triển đồng bộ hơn trong giáo dục HS. Luận văn của Nguyễn Minh [26], đại học sự phạm Huế nghiên cứu về “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với GĐ của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp” nội dung luận văn đề xuất tăng cường giáo dục GĐ và thiết lập được sự phối hợp chặt chẻ giữa nhà trường, GĐ và xã hội sẽ mang lại kết quả tốt đẹp về giáo dục, huy động cha mẹ HS cùng với nhà trường đổi mới giáo dục là yêu cầu cần thiết để phát triển giáo dục Luận văn của Phạm Minh Tùng [41] “Thực trạng quản lý việc phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức cho học viên tại một số trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố Hồ Chí Minh”, Đại học sư phạm Tp.
HCM, nêu lên thực trạng quản lý các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống để hình thành nhân cách và phát triển năng lực cho HS; trình bày kế hoạch hành động của hiệu trưởng nhằm tăng cường các hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống để hình thành nhân cách và phát triển năng lực. Dương Văn Thạnh [39], Đại học sư phạm Tp.