phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về đất đai Chƣơng 2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn thị xã e 7 An Nhơn, tỉnh Bình Định Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định e 8 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về đất đai Đất theo nghĩa thổ nhƣỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian. Giá trị tài nguyên đất đƣợc đánh giá bằng số lƣợng diện tích (m2, ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ.
Đất đai đƣợc nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hƣởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhƣỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con ngƣời. - Quản lý đất đai: Quản lý đất đai theo cách tiếp cận chức năng là các công việc có liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu đƣợc từ đất (thông qua việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất hoặc thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các khoản thuế về đất,…) và giải quyết những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo,… liên quan đến quyền sử dụng đất. Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lƣu giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trƣờng bất động sản.
Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tƣợng đất công và đất tƣ bao gồm: e 9 các hoạt động đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý việc sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý. Nhà nƣớc với vai trò chủ thể quản lý sẽ soạn thảo và ban hành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp Luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nƣớc xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc; tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và tƣ nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính, quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp về chuyên gia tƣ vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế. Nhƣ vậy, Quản lý nhà nước về đất đai là tổng thể các hoạt động của cơ quan Nhà nước về phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương của Nhà nước, về kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai với mục tiêu cao nhất là bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước, đảm bảo cho việc khai thác sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, bền vững và ngày càng có hiệu quả cao.
Muốn đạt đƣợc mục tiêu quản lý, Nhà nƣớc cần phải xây dựng hệ thống cơ quan quản lý đất đai có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng để thực thi có hiệu quả trách nhiệm đƣợc Nhà nƣớc giao; đồng thời, ban hành các chính sách, chế độ, thể chế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc đáp ứng đƣợc nội dung quản lý nhà nƣớc về đất đai. Điều này thể hiện chức năng của Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa là quản lý mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội trong đó có quản lý đất đai. Mục đích cuối cùng của Nhà nƣớc và ngƣời sử dụng đất là làm sao khai thác, sử dụng đất có hiệu quả nhất để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh- quốc phòng của đất nƣớc. Vì vậy, đất đai cần phải đƣợc thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật.
Cho đến nay trên thế giới có hai hệ thống hồ sơ quản lý đất đai: hệ thống e 10 địa bạ (Deed system) và hệ thống bằng khoán (Title system). Hệ thống địa bạ đã đƣợc áp dụng từ rất lâu đời, hệ thống hồ sơ gồm: một là các sổ sách địa chính mô tả thửa đất theo kiểu sơ đồ do chính quyền quản lý và hai là các giấy tờ pháp lý dựa trên cơ sở các khế ƣớc, văn tự đƣợc pháp luật thừa nhận. Khi các mối quan hệ đất đai trở nên phức tạp hơn ngƣời ta sử dụng một hệ thống hồ sơ hiện đại hơn gọi là hệ thống bằng khoán. Hệ thống này bao gồm: một là bản đồ địa chính, hai là các hồ sơ đăng ký đất đai và ba là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn hệ thống bằng khóan cho phép chính quyền quản lý cụ thể hơn, chặt chẽ hơn và thống nhất hơn. Mỗi thửa đất trong cả nƣớc có số hiệu riêng không trùng nhau, kích thƣớc thửa đất rõ ràng, vị trí cụ thể, chứng lý thống nhất. Các triều đại phong kiến ở nƣớc ta chỉ sử dụng hệ thống địa bạ. Trong thời gian đô hộ nƣớc ta, thực dân Pháp đã sử dụng cả hai hệ thống, hệ thống địa bạ đƣợc sử dụng cho đất thuộc khu vực nông thôn, còn đất đô thị đƣợc chuyển dần từ hệ thống địa bạ sang hệ thống bằng khoán.
Từ khi Luật Đai đai 1988 đƣợc ban hành cho đến nay nƣớc ta đã lựa chọn hệ thống bằng khoán thống nhất để quản lý toàn bộ đất đai cả nƣớc. Đây là toàn bộ công việc quản lý đất đai theo quan niệm cũ. Nói cách khác quan niệm quản lý đất đai theo kiểu cũ chỉ quan tâm tới việc điều chỉnh các quan hệ đất đai trong phạm vi dân sự và hành chính, chƣa chú ý tới vai trò của đất đai trong bức tranh hoạt động vĩ mô của nền kinh tế- xã hội. Vì vậy, phân tích các hiện tƣợng kinh tế - xã hội có nguồn gốc từ quan hệ đất đai trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất để hoạch định và điều chỉnh các chính sách và pháp luật về đất đai.
Vai trò quản lý nhà nƣớc về đất đai Quản lý nhà nƣớc về đất đai có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và có những đặc trƣng riêng, đất đai đƣợc Nhà nƣớc thống nhất quản lý nhằm: e 11 Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Đất đai đƣợc sử dụng vào tất cả các hoạt động của con ngƣời, tuy có hạn về mặt diện tích nhƣng sẽ trở thành năng lực sản xuất vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý. Thông qua chiến lƣợc sử dụng đất, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nƣớc điều tiết để các chủ sử dụng đất sử dụng đúng mục đích, đúng quy hoạch nhằm thực hiện mục tiêu chiến lƣợc đã đề ra; Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nƣớc nắm đƣợc quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất. Trên cơ sở đó, có những biện pháp thích hợp để sử dụng đất đai có hiệu quả cao nhất; Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, tạo nên tính pháp lý cho việc bảo đảm lợi ích chính đáng của ngƣời sử dụng đất, đồng thời cũng bảo đảm lợi ích của Nhà nƣớc trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất; Thông qua việc giám sát, kiểm tra, quản lý và sử dụng đất đai, Nhà nƣớc nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tƣợng sử dụng đất.
Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm; Việc quản lý nhà nƣớc về đất đai còn giúp Nhà nƣớc ban hành các chính sách, quy định, thể chế; đồng thời, bổ sung, điều chỉnh những chính sách, nội dung còn thiếu, không phù hợp, chƣa phù hợp với thực tế và góp phần đƣa pháp luật vào cuộc sống. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về đất đai Quản lý nhà nƣớc về đất đai gồm các nguyên tắc chủ yếu nhƣ: 1. Nguyên tắc thống nhất về quản lý nhà nước Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nƣớc thống nhất quản lý, chính quyền thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu và quản lý nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn đƣợc quy định bởi pháp luật. Quản lý nhà nƣớc về đất đai của e 12 chính quyền nhằm thực hiện việc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế; hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài.
Nhà nƣớc tạo điều kiện cho ngƣời sử dụng đất có thể phát huy tối đa các quyền đối với đất đai. Có nhƣ vậy ngƣời sử dụng đất mới yên tâm, chủ động đầu tƣ lao động, vật tƣ, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào các việc bảo vệ cải tạo, làm tăng độ màu mỡ của đất; khai hoang, phục hóa, đƣa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nƣớc hoang hóa vào sử dụng; đồng thời, phát triển hạ tầng để làm tăng giá trị đất.