phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, kết luận và phụ lục, luận văn gồm ba chương. Cơ sở khoa học Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành Y tế huyện Krông P c, t nh k L k. Thực trạng Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành Y tế huyện Krông P c, t nh k L k. Giải pháp tăng cường Quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành Y tế huyện Krông P c, t nh k L k.
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1. Một số khái niệm 1. Nguồn nhân c Nguồn nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên hiệp quốc: “Nguồn nhân c à tổng thể sức d trữ, những ti m tàng, những c ượng thể hiện sức mạnh và s tác động của con người trong việc cải tạo t nhi n và cải tạo xã hội” [10, tr.
Quan niệm của Tổ chức Quốc tế về Lao động (ILO) thì “Nguồn nhân c của một quốc gia à toàn thể những người trong độ tuổi có khả năng tham gia ao động”. Theo quan điểm của Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn c con người à số dân và chất ượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng c và phẩm chất” [11, tr. Theo quan điểm của ảng Cộng Sản Việt Nam:“Nguồn c con người à qu báu nhất, có vai trò quy t đ nh, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn c tài chính, nguồn c vật chất còn hạn hẹp”, đó là “nguồn ao động có trí tuệ cao, tay ngh thành tạo, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi n n giáo dục ti n ti n gắn với một n n khoa học hiện đại” [06, tr. Ngoài ra một số tác giả khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo số lượng, chất lượng và cơ cấu: Về số lượng: thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Về chất lượng: thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. 14 e Về cơ cấu nguồn nhân lực thông qua các tỷ lệ của từng bộ phận nguồn nhân lực được phân chia theo các tiêu thức chất lượng khác nhau trong tổng nguồn nhân lực như: cơ cấu nguồn nhân lực theo tuổi, theo giới tính, theo trình độ chuyên môn… Từ các quan điểm trên, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân c bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng ao động. Theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân c à khả năng ao động của xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi ao động, có khả năng ao động, à tổng thể của các y u tố thể c, trí c, kỹ năng ao động, tinh thần, thái độ, thức ao động.
Trong phạm vi luận văn, nguồn nhân lực trong tổ chức được hiểu là tổng số cán bộ công chức, viên chức và người lao động có trong danh sách của một tổ chức, làm việc bằng thể lực, trí lực của họ và hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của tổ chức. Hay có thể gọi là lực lượng lao động của tổ chức. Ph t triển nguồn nhân c Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên trong thực tế có các quan niệm khác nhau: Theo giáo trình Quản trị nhân lực Trường ại học Kinh tế quốc dân xuất bản năm 2004 thì: PTNNL (theo nghĩa rộng): “ à tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được ti n hành trong những khoảng thời gian nhất đ nh để nhằm tạo ra s thay đổi trong hành vi ngh nghiệp của người ao động”[15, Tr. Theo giáo trình Kinh tế lao động, trường H Kinh tế Quốc dân do PGS.Mai Quốc Chánh chủ biên xuất bản năm 2008 thì: “PTNN à quá trình phát triển thể c, trí c, khả năng nhận thức và ti p thu ki n thức, tay ngh , tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; n n văn hóa; truy n thống ch sử… Do đó, PTNN đồng nghĩa với nâng cao năng c xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân c v mọi mặt; thể c, trí c, nhân cách, đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng c đó để phát triển đất nước” [02,tr.
15 e PTNNL bao gồm ba hoạt động chính: phát triển số lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực.Trong đó chất lượng nguồn nhân lực được đặc biệt chú trọng thông qua công tác đào tạo, trên thực tế, đào tạo và bồi dưỡng dễ bị đồng nhất với giáo dục nói chung. Giáo dục là một quá trình được tổ chức nhằm phát triển thể chất, nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ, góp phần hoàn thiện nhân cách người học đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội. Trong khi đào tạo và bồi dưỡng nhằm giúp cho người học n m vững những kiến thức, có được kĩ năng nghề nghiệp ở một lĩnh vực để thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng có những điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất như đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động …Nhưng, đào tạo và bồi dưỡng nhằm vào việc trang bị thêm và củng cố những năng lực cụ thể để người lao động đảm nhận những công việc nhất định, do vậy thường có ý nghĩa hẹp hơn.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi hẹp ch các hoạt động tạo cơ hội phát triển kỹ năng, năng lực của cá nhân để phát triển nghề nghiệp và sự nghiệp. Phát triển bao gồm cả đào tạo nhưng liên quan chặt chẽ tới nghề nghiệp, nhiệm vụ trong tương lai của người lao động trong tổ chức, vì vậy c n bao gồm nhiều hoạt động liên quan như: thiết kế lại công việc, làm giàu công việc, luân chuyển nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực theo chiến lược và mục tiêu đã được hoạch định. Phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi một quốc gia bao gồm 3 khía cạnh về các mặt: thể lực, nâng cao phẩm chất chung của nguồn nhân lực và phát triển về trí lực. Trong đó, phát triển về thể lực và nâng cao phẩm chất chung liên quan đến nhiều chính sách như: y tế, dinh dưỡng, giáo dục, xây dựng văn hóa cộng đồng để nâng cao tinh thần đoàn kết, yêu nước của người dân.
Phát triển về trí lực bao gồm nhiều nội dung như: giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng, tức năng lực của nguồn nhân lực. Trong một tổ chức, hoạt động chủ yếu nhất của phát triển nguồn nhân lực đào tạo và bồi dưỡng. 16 e Vậy, có thể hiểu: “Phát triển nguồn nhân c à tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất ượng cho nguồn nhân c như trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm - xã hội, nhằm đáp ứng đòi hỏi v nguồn nhân c cho s phát triển kinh t - xã hội trong từng giai đoạn phát triển”[15, tr. Phát triển nguồn nhân lực của một đất nước là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt: thể lực, trí lực, kỹ năng, tinh thần, tình cảm, cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiền bộ về cơ cấu nguồn nhân lực.
Nói cách khác, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người về sự tiến bộ của kinh tế xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người. Nguồn nhân c ngành y tế Trong hệ thống y tế, nguồn nhân lực y tế (NNLYT) được coi là một trong những thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống. Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: NNLYT bao gồm tất cả những người tham gia chủ y u vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe. Theo đó NNLYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người tham gia công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế.
Theo định nghĩa này, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được gọi là “NNLYT” bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y dược và tất cả những người khác tham gia vào hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Theo quy định về phân tuyến kỹ thuật trong khám chữa bệnh của Bộ Y tế thì hệ thống y tế Việt Nam được phân thành bốn tuyến: tuyến trung ương, tuyến t nh, tuyến huyện và tuyến xã. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài ch đề cập đến NNLYT tại huyện Krông P c, t nh k L k. Ph t triển nguồn nhân c ngành y tế Phát triển nguồn nhân lực ngành Y tế là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực về số lượng, chất lượng và 17 e cơ cấu nguồn nhân lực ngành Y tế, được biểu hiện ở việc hoàn thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng, nhận thức của nguồn nhân lực Y tế, nhằm đáp ứng đ i hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.
Quản nhà nước về h t triển nguồn nhân c ngành Y tế Quản lý nhà nước là thuật ngữ ở Việt Nam với nhiều cách tiếp cận khác nhau, Khái niệm quản lý nhà nước ch xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp.