phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với ngành thủy sản. Chƣơng này có mục tiêu là xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân tích ở các chƣơng tiếp theo của luận văn. Các nội dung đầu tiên của chƣơng đƣợc đề cập là Các khái niệm về quản lý nhà nƣớc đối với ngành thủy sản, vai trò cũng nhƣ các công cụ quản lý là nội dung đầu tiên trong chƣơng này. Chƣơng 1 còn đi sâu tập trung phân tích các nội dung và tiêu chí quản lý nhà nƣớc về ngành thủy sản, các nhân tố ảnh hƣởng đến việc quản lý để làm cơ sở khoa học cho việc phân tích ở chƣơng 2.
Công tác Quản lý nhà nƣớc về kinh tế nói chung và ngành thủy sản nói riêng là còn mới mẻ từ khi đổi mới nên không khỏi những thiếu sót, hạn chế. Chính vì vậy mà việc theo dõi và học hỏi những kinh nghiệm của các địa phƣơng trong nƣớc là nội dung cuối của Chƣơng 1. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với ngành thủy sản tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Để có đánh giá sát thực về công tác quản lý nhà nƣớc về ngành thủy sản, nội dung đầu tiên đề cập đến các đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Quy Nhơn ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc đối với ngành thủy sản.
Nội dung tiếp theo của chƣơng này đi sâu phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với ngành thủy sản tại thành phố e 10 Quy Nhơn, Bình Định trong thời gian qua. Dựa trên kết quả phân tích, luận văn chỉ ra những thành tựu cũng nhƣ hạn chế và một số vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nƣớc trong ngành thủy sản ở Quy Nhơn là 2 nội dung cuối cùng của chƣơng này. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc quản lý nhà nƣớc đối với ngành thủy sản tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Trên cơ sở phân tích những cơ sở lý luận, thực tiễn cũng nhƣ những đánh giá nhận định từ chƣơng 1 và chƣơng 2, nghiên cứu đƣa ra những căn cứ có tính khoa học làm nòng cốt cho việc đề xuất các giải pháp.
Để đẩy mạnh công tác quản lý nhà nƣớc về ngành thủy sản ở Quy Nhơn trong thời gian tới cần triển khai đ ng bộ các giải pháp đã nêu ra. Trong đó các giải pháp cơ bản và quan trọng nhất cho thành phố Quy Nhơn là hoàn thiện việc ban hành và triển khai các chính sách của ngành. Ngoài ra, luận văn cũng đề xuất một số kiến nghị đối với cơ quan hữu quan là nội dung cuối cùng của chƣơng 3. e 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH THỦY SẢN 1.
Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với ngành thủy sản 1. Một số khái niệm vềquản lý nhà nước đối với ngành thủy sản Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nƣớc, bằng nhiều biện pháp tới các đối tƣợng quản lý nhằm đạt các mục tiêu các chủ thể quản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vị trí, nguyên tắc QLNN trên cơ sở pháp luật. QLNN phải luôn gắn với những mục tiêu, chức năng nhiệm vụ cụ thể [4]. Hay “Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”.
Nhƣ vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nƣớc của các cơ quan nhà nƣớc và cán bộ công chức có thẩm quyền, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đối tƣợng của QLNN là hệ thống các hành vi, hoạt động của con ngƣời, các tổ chức con ngƣời trong cuộc sống xã hội, bao trùm lên mọi lĩnh vực trong xã hội. Có thể chia đối tƣợng của QLNN theo các lĩnh vực của đời sống xã hội nhƣ: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Quản lý nhà nước đối với ngành thủy sảnlà sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nƣớc đến các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực thủy sản nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các ngu n lực kinh tế trong và ngoài nƣớc, các cơ hội có thể có, để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển ngành thủy sản trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lƣu quốc tế [13].
Trong luận văn này, tác giả chủ yếu nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc của e 12 cấp thành phố đối với ngành thủy sản ở Quy Nhơn trên các mặt: Ban hành và triển khai thực hiện các văn bản, chính sách ngành thủy sản; định hƣớng phát triển thủy sản, công tác tổ chức thực hiện cơ chế và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch; tổ chức các hoạt động phát triển ngành thủy sản; kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực thủy sản; những hạn chế, bất cập trong khâu quản lý hoạt động đánh bắt, NTTS. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với ngành thủy sản trên địa bàn thành phố. "Thủy sản" là "một thuật ngữ chỉ chung về những ngu n lợi", sản vật đem lại cho con ngƣời từ môi trƣờng nƣớc và đƣợc con ngƣời khai thác, nuôi tr ng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trƣờng. Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi tr ng và khai thác các loại cá.
Hoạt động thủy sản là hoạt động bảo vệ và phát triển ngu n lợi thủy sản; nuôi tr ng thủy sản; khai thác thủy sản; chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản [9]. Khai thác thủy sản là hoạt động đánh bắt hoặc hoạt động hậu cần đánh bắt ngu n lợi thủy sản [9]. Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nƣớc tự nhiên có giá trị kinh tế, khoa học, du lịch, giải trí [9]. Hoạt động hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản là hoạt động thăm dò, tìm kiếm, dẫn dụ, vận chuyển ngu n lợi thủy sản đánh bắt trong vùng nƣớc tự nhiên [9].
Nuôi trồng thủy sản là hoạt động của con ngƣời đem con giống (tự nhiên hoặc nhân tạo) thả vào môi trƣờng nuôi (ao nuôi hoặc thiết bị nuôi nhƣ l ng, bè.) và đối tƣợng nuôi đƣợc sở hữu trong suốt quá trình nuôi[5]. Vai trò của quản lý nhà nước đối với ngành thủy sản 1. Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế Ở nƣớc ta, thủy sản giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và e 13 là ngành kinh tế mũi nhọn thể hiện trên 3 mặt: - Về kinh tế: Ngành thủy sản có đóng góp vô cùng to lớn trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lƣơng thực, thực phẩm nhất là vấn đề giải quyết việc làm. Ngày nay, dân số tăng nhanh với một mức độ chóng mặt vì thế các quốc gia gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề đảm bảo an ninh lƣơng thực cũng nhƣ giải quyết việc làm cho thanh niên đến tuổi lao động.
Theo thống kê của FAO về việc tiêu thị sản phẩm thủy sản cho biết mức tiêu thụ trung bình trên đầu ngƣời của các nƣớc phát triển là 35,9kg/năm, các nƣớc đang phát triển là 12,3 kg/năm. Ở Việt Nam là 16,5 kg/năm. Mức sống của cộng đ ng khiến cho nhu cầu đối với nhiều loại thủy sản mà Việt Nam có khả năng sản xuất đang và sẽ còn tăng mạnh. Quan hệ cung – cầu trên thị trƣờng thế giới ngày càng thể hiện rõ sự thiếu hụt ngu n cung cấp.
Do đó, để đáp ứng nhu cầu của xã hội, vấn đề đặt ra là cần phát triển thủy sản ở trình độ cao. Thủy sản là khu cung cấp nguyên liệu to lớn, cần thiết cho các khu công nghiệp chế biến thủy hải sản. Cũng từ đó giá trị của thủy hải sản tăng lên nhiều lần làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập cho doanh nghiệp và nhà nƣớc. Nhu cầu về sản phẩm thủy hải sản hiện nay phát triển mạnh theo hai hƣớng: sản phẩm giá trị gia tăng, sản phẩm ăn liền đóng gói nhỏ và các loại thủy sản tƣơi sống nhƣng không phải quốc gia nào cũng có sản phẩm thủy sản tƣơi sống để tiêu thị nên thủy sản qua chế biên và các sản phẩm có giá trị đƣợc chú ý phát triển nhiều hơn để xuất khẩu bởi sản phẩm thủy hải sản là sản phẩm thuộc loại “mau ƣơn, chóng thối”.
Phát triển thủy sản ở nhiều khu vực tạo ra khả năng phát triển khu du lịch sinh thái nhất là ngành nuôi tr ng thủy hải sản. Đây là một hƣớng lâu dài và hiệu quả bởi nuôi tr ng thủy sản đòi hỏi rất nhiều vốn.Vì thế chúng ta kết hợp nuôi tr ng với phát triển du lịch sinh thái sẽ tạo ra lƣợng tiền đáng kể e 14 giảm bớt sức ép về nuôi tr ng thủy hải sản. Thủy sản là mặt hàng xuất khẩu rất quan trọng của Việt Nam hiện nay. Mặc dù ngành thủy sản là một ngành chứa đựng rất nhiều rủi ro nhƣng giá trị sản phẩm ngành mang lại là rất lớn nhất là đối với quá trình phát triển đi lên để hội nhập thế giới của nƣớc ta bởi xuất khẩu thủy sản có đóng góp không nhỏ vào GDP hàng năm.
- Về mặt xã hội: Ngành thủy sản phát triển tạo thêm nhiều việc làm cho ngƣời lao động, phần lớn là ở các vùng nông thôn và ven biển. Vì ở các quốc gia này dân số đông trong khi trình độ dân trí lại thấp nên phát triển ngành thủy sản đang là hƣớng đi chủ yếu ở các nƣớc có điều kiện khí hậu thuận lợi, tạo ra việc làm thu hút một khối lƣợng lớn lao động nông nhàn, làm tăng thu nhập đảm bảo đời sống, góp phần làm giảm đi làn song di dân vào thành thị. Ở Việt Nam, phát triển thủy sản gắn liền với xóa đói giảm nghèo đặc biệt ở vùng cao, vùng sâu.Thực phẩm thủy sản sản xuất tại chổ còn trực tiếp làm giảm tỷ lệ suy dinh dƣỡng, còi xƣơng ở trẻ em vùng cao. Sản xuất thủy sản phát triển, việc tập trung sản xuất ở ven sông, suối, ao h còn giúp xóa bỏ tập quá du canh, du cƣ, tăng cƣờng biên giới trên đất liền.