Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội. e 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Dịch vụ việc làm Khoản 1 Điều 15 Bộ Luật Lao động số 35-L/CTN ngày 23/6/1994 quy định: “Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải quyết việc làm; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác, phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm. Hàng năm Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm” [27]. Từ quy định trên, khái niệm về DVVL mới được thừa nhận và hoạt động DVVL bắt đầu được chú trọng.
Điều 36 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 quy định: “Dịch vụ việc làm bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động” [29]. DVVL thực chất không tạo ra việc làm nhưng có thể hỗ trợ và là cầu nối giúp cho NLĐ có thể tìm việc làm, tức là DVVL đóng vai trò kết nối trung gian giữa NLĐ và NSDLĐ và nó bao gồm những công việc phục vụ hai nhóm đối tượng này: Nhóm đối tượng là NLĐ: Tư vấn học nghề cho NLĐ về lựa chọn nghề, trình độ đào tạo, nơi học phù hợp với khả năng và nguyện vọng; Tư vấn việc làm cho NLĐ về lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; về kỹ năng thi tuyển; về tự tạo việc làm, tìm việc làm trong và ngoài nước; Tư vấn về chính sách, pháp luật lao động cho NLĐ; Giới thiệu NLĐ cần tìm việc e 9 làm với NSDLĐ cần tuyển lao động; Tuyển lao động thông qua thi tuyển để lựa chọn những người đủ điều kiện, đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ; Giới thiệu, cung ứng lao động cho đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực tìm kiếm việc làm và đào tạo kỹ năng, dạy nghề khác theo quy định của pháp luật; Hỗ trợ người lao động trong trường hợp chuyển từ nghề này sang nghề khác, di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác, di chuyển ra nước ngoài làm việc và các hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật. Nhóm đối tượng là NSDLĐ: Tư vấn cho NSDLĐ về tuyển dụng lao động; về quản trị và phát triển nguồn nhân lực; về sử dụng lao động và phát triển việc làm; Tư vấn về chính sách, pháp luật lao động cho NSDLĐ; Giới thiệu NLĐ cần tìm việc làm với NSDLĐ cần tuyển lao động; Cung ứng lao động theo yêu cầu của NSDLĐ; Tuyển lao động thông qua thi tuyển để lựa chọn những người đủ điều kiện, đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ; Giới thiệu, cung ứng lao động cho đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở những khái niệm DVVL đã trình bày, tác giả quan niệm: Dịch vụ việc làm là hoạt động chắp nối của một tổ chức, cá nhân nhằm tạo ra một sản phẩm dịch vụ là việc làm, theo đó bên cung cấp dịch vụ (người bán) thực hiện các hoạt động tuyển chọn, đào tạo lao động theo nhu cầu, điều kiện, tiêu chuẩn của khách hàng là NSDLĐ (người mua).
Kết quả của sản phẩm dịch vụ việc làm là NLĐ tìm được chỗ làm phù hợp, NSDLĐ tìm được người thích hợp phụ trách công việc mà mình đang cần. Trong đó các quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia thể hiện qua hợp đồng dịch vụ tuân thủ những quy định pháp luật cho phép. Trung tâm dịch vụ việc làm 1. Khái niệm Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì các TTDVVL là những tổ chức được Nhà nước cho phép thành lập nhằm mục đích kết nối cung – cầu lao động hay GTVL, sắp xếp việc làm có hiệu quả cho NLĐ và NSDLĐ qua hoạt động chắp nối.
Chức năng, hoạt động khác của TTDVVL là cung cấp thông tin và tư vấn nghề nghiệp cho NLĐ đang tìm kiếm việc làm tham gia vào TTLĐ và những người có ý muốn thay đổi việc làm tìm được công việc phù hợp; quản lý các chương trình BHTN và chi trả trợ cấp thất nghiệp; quản lý các chương trình làm việc đặc biệt, quản lý quỹ xúc tiến việc làm. Ngoài ra, tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng quốc gia, các TTDVVL có quy mô và lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhưng ở hầu hết các quốc gia đều có quy định các TTDVVL đều được thu lệ phí. Ở Việt Nam, tại Điều 14 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “1. Tổ chức dịch vụ việc làm có chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động và thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật; 2.
Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy định của Chính phủ, Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp; 3. Tổ chức dịch vụ việc làm được thu phí, miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về phí, pháp luật về thuế” [28]. Điều 37, 39 của Luật Việc làm năm 2013 quy định: “Trung tâm dịch vụ việc làm là đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Trung tâm dịch vụ việc làm e 11 do cơ quan quản lý nhà nước thành lập và trung tâm dịch vụ việc làm do tổ chức chính trị - xã hội thành lập”; “Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm cấp tỉnh cấp” [29]. Khoản 3 Điều 5 Luật Việc làm năm 2013 cũng quy định chính sách của nhà nước về việc làm: “Có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp” và Điều 36 có quy định “1.
Dịch vụ việc làm bao gồm: tư vấn, giới thiệu việc làm; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động; 2. Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm” [29]. Trong phạm vi của luận văn, tác giả quan điểm TTDVVL bao gồm TTDVVL công lập và các DNDVVL. Trong TTLĐ thì các TTDVVL được coi là công cụ đặc biệt để giải quyết vấn đề việc làm, là cầu nối trung gian giữa NLĐ và NSDLĐ.
Song tùy thuộc vào luật pháp của từng nước mà các TTDVVL được thành lập dưới các loại hình khác nhau sẽ thực hiện các nhiệm vụ khác nhau theo quy định của pháp luật. Loại hình Căn cứ vào chủ thể thành lập, các TTDVVL ở Việt Nam được phân loại thành các TTDVVL công lập (do cơ quan nhà nước và các tổ chức, chính trị - xã hội thành lập) và các Doanh nghiệp hoạt động DVVL (DNDVVL). Việc hình thành hai hệ thống DVVL nhà nước và DVVL tư nhân ở Việt Nam hoàn toàn phù hợp với thực tiễn của tất cả các nước, kể cả phát triển và đang phát triển. Hai hệ thống này tồn tại song song, ít cạnh tranh mà chủ yếu hợp tác và hỗ trợ nhau để đáp ứng nhu cầu DVVL của NLĐ và doanh nghiệp.
Chức năng, nhiệm vụ a) Đối với các Trung tâm dịch vụ việc làm công lập Thứ nhất là hoạt động tư vấn, bao gồm: Tư vấn học nghề cho NLĐ về lựa chọn nghề, trình độ đào tạo, nơi học phù hợp với khả năng và nguyện vọng; Tư vấn việc làm cho NLĐ về lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; về kỹ năng thi tuyển; về tự tạo việc làm, tìm việc làm trong và ngoài nước; Tư vấn cho NSDLĐ về tuyển dụng lao động; về quản trị và phát triển nguồn nhân lực; về sử dụng lao động và phát triển việc làm; Tư vấn về chính sách, pháp luật lao động cho NLĐ, NSDLĐ [2]. Thứ hai là GTVL cho NLĐ, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của NSDLĐ, bao gồm: Giới thiệu NLĐ cần tìm việc làm với NSDLĐ cần tuyển lao động; Cung ứng lao động theo yêu cầu của NSDLĐ; Tuyển lao động thông qua thi tuyển để lựa chọn những người đủ điều kiện, đáp ứng yêu cầu của NSDLĐ; Giới thiệu, cung ứng lao động cho đơn vị, doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng [2]. Thứ ba là thu thập, phân tích, dự báo và cung ứng thông tin cho TTLĐ [2]. Thứ tư là tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực tìm kiếm việc làm và đào tạo kỹ năng, dạy nghề khác theo quy định của pháp luật [2].
Thứ năm là hỗ trợ NLĐ trong trường hợp chuyển từ nghề này sang nghề khác, di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác, di chuyển ra nước ngoài làm việc và các hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật [2]. Thứ sáu là tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, việc làm. Thứ bẩy là thực hiện các chương trình, dự án về việc làm [2]. Thứ tám là thực hiện chính sách BHTN theo quy định của pháp luật [2].
Thứ chín là thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật [2]. b) Đối với các doanh nghiệp dịch vụ việc làm.