phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương. 9 e CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 1.
Một số khái niệm cơ bản của luận văn 1. Di sản văn hóa Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng đặc trưng, tính lưu truyền đã biến nét đẹp văn hóa qua từng thế hệ trở thành kho tàng di sản văn hóa của dân tộc. Khi đề cập đến di sản văn hóa, chúng ta thường hay hiểu đó là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài mà cha ông để lại và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau [22, tr 7]. Nghị quyết số 33/NQ-TW ngày 09/6/2014, Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước khẳng định: “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội.
Bảo tồn, tôn tạo các di tích LSVH tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế” để văn hóa trở thành “nền tảng tinh thần của xã hội” [4]. Di sản văn hóa là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc. Nó là một sự tổng hòa của một tập hợp những cặp phạm trù thống nhất, vừa tương phản: truyền thống - hiện đại; kế thừa - phát triển; dân tộc - quốc tế. Được đề cập trong Luật Di sản văn hóa năm 2001, di sản văn hóa được sử dụng nhằm mục đích: “Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội; Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế” [23, tr 13].
Luật Di sản văn hóa cũng nêu rõ: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị 10 e lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [23, tr 8]. Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10382:2014 về Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa chung, gọi di sản văn hóa là “Sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể” [8]. Với sự tương đồng trong Luật Di sản của UNESSCO, việc phân loại di sản văn hóa cũng được định hình làm rõ như sau: - Di sản văn hóa phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [23, tr 43] hay di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng động hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [23, tr 44]. - Di sản văn hóa vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [23, tr 8].
Trên thực tế, yếu tố vật thể và phi vật thể có sự hòa trộn, gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại và tương hỗ lẫn nhau tạo nên sự hình thành của di sản, do đó, chúng ta còn có thể tiến hành phân loại di sản theo một cách khác căn cứ trên 11 e giá trị của di sản như: những nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay các di sản có mức độ quan trọng cấp quốc tế; nhóm di sản có tầm quan trọng cấp quốc gia hay nhóm di sản có tầm quan trọng cấp địa phương. Theo đó, những di sản có tầm quan trọng cấp quốc tế là những di sản văn hóa thế giới hoặc những di sản được Nhà nước lập hồ sơ gửi UNESCO xem xét, công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nhóm di sản thuộc cấp quốc gia bao gồm những di sản được xếp hạng di tích quốc gia quan trọng, một số làng nghề truyền thống nổi tiếng, những lễ hội lớn mà tầm ảnh hưởng của nó vượt khỏi phạm vi một tỉnh hay một vùng. Cuối cùng là nhóm di sản thuộc cấp địa phương bao gồm những di tích LSVH được xếp hạng cấp địa phương mà tầm ảnh hưởng và thu hút của nó vượt khỏi phạm vi, giới hạn tỉnh hoặc huyện, thị xã.
Kho tàng di sản văn hóa dân tộc chính là những tinh hoa được chắt lọc nên từ công lao của bao thế hệ cha anh đi trước, được đánh đổi bằng xương máu và nước mắt. Trách nhiệm của những thế hệ đi sau là phải tiếp tục bảo vệ, phát huy, gìn giữ một cách có hiệu quả và bền vững những tài sản vô giá, đồng thời nâng nó lên một tầm cao mới phù hợp với tiến trình phát triển của dân tộc. Phát triển và lưu giữ những giá trị tốt đẹp của kho tàng di sản văn hóa dân tộc cũng như tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại, khai thác một cách có hiệu quả phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó chính là nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay.
Di tích lịch sử - văn hóa Di tích là các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa hoành tráng, các yếu tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ, các văn tự, hang động và các công trình có sự kết hợp nhiều đặc điểm có giá trị nổi bật toàn cầu, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học [23, tr 6]. 12 e Có thể hiểu di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại cho thế hệ sau hay di tích là dấu vết trong quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất, có giá trị về mặt ý nghĩa lịch sử và văn hóa. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại gồm: Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); Di tích kiến trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh [7]. Di tích lịch sử – văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [23, tr 9] hoặc di tích LSVH là một công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước [22, tr 78].
Quy định của Luật Di sản Văn hóa 2001, di tích LSVH phải có một trong các tiêu chí sau đây: Thứ nhất, công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Thứ hai, công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Thứ ba, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Thứ tư, công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [23, tr 19]. 13 e Di tích LSVH được chia thành di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, di tích thắng cảnh, di tích cách mạng kháng chiến. - Di tích kiến trúc nghệ thuật: là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
- Di tích khảo cổ: là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. - Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học [2, tr 9]. DLTC phải có một trong các tiêu chí như: Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu; Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất [23, tr 27].