phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, luận văn bao gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý lao động nhập cƣ. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý lao động nhập cƣ trên địa bàn nội thành Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008 Chƣơng 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lao động nhập cƣ trong quá trình phát triển KT- XH của thành phố Hà Nội 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NHẬP CƢ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý lao động nhập cƣ 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguyên nhân của hiện tượng lao động nhập cư Sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển KT-XH là nhiệm vụ quan trọng của các cấp quản lý trong thời kỳ toàn cầu hóa, trong đó việc quản lý nguồn lực lao động nhập cƣ hết sức cần thiết và có tác động tích cực để tạo ra sức mạnh cạnh tranh cũng nhƣ hạn chế tác động tiêu cực, phức tạp hóa đến KT-XH đối với nhiều quốc gia và thành phố.
Việc ngƣời lao động quyết định nhập cƣ đến một nơi mới xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chính của họ là mong muốn tìm công việc, điều kiện sống tốt hơn. Việc hiểu rõ bản chất nguyên nhân dẫn đến việc ra quyết định thay đổi môi trƣờng sống có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đƣa ra các giải pháp quản lý hiệu quả, xây dựng những chính sách phù hợp nhằm thu hút nguồn lực lao động nhập cƣ có năng lực góp phần xây dựng, phát triển KT-XH. Mô hình “lực hút - lực đẩy” của Everett S. Lee đã nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến quyết định thay đổi môi trƣờng sống của các dòng lao động nhập cƣ.
Lee đã chia ra làm hai yếu tố tác động trực tiếp đến ngƣời lao động nhập cƣ và ảnh hƣởng đến quá trình ra quyết định đó là lực đẩy và lực hút. “Các yếu tố về lực đẩy đƣợc Everett S. Lee chỉ ra bao gồm những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa…” [9, tr. Tại các nƣớc đang phát triển có sự tăng trƣởng kinh tế nhanh chóng và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, sự gia tăng dân số cơ học liên tục chủ yếu từ các dòng lao động nhập cƣ đã tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của KT – XH và làm mất cân đối trong cơ cấu kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực, bên cạnh đó những tác động tiêu cực dẫn đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm và đẩy ngƣời lao động phải thay đổi môi trƣờng sống, tìm kiếm công việc mới để đảm bảo 6 thu nhập và cải thiện cuộc sống. Ngoài ra những yếu tố về phong tục tập quán, tôn giáo, công nghệ cũng là những nguyên nhân tạo ra lực đẩy. “Trong xã hội hiện nay, sự thay đổi kinh tế và công nghệ trong khu vực nông nghiệp làm dƣ thừa một lực lƣợng lao động lớn và cũng là nguyên nhân khiến họ ra đi” [9] Lực hút tại những đô thị lớn khiến dòng lao động nhập cƣ từ các vùng ven đô, vùng lân cận di chuyển vào trung tâm thành phố để tìm kiếm những cơ hội mới tốt hơn. Ở nơi nhập cƣ, họ tìm đƣợc những thuận lợi về văn hóa, điều kiện sinh sống, chính sách phát triển kinh tế khu vực,… đó là những thu hút lôi cuốn đối với ngƣời lao động nhập cƣ [9, tr.
Với sự tăng trƣởng nóng về kinh tế tại các trung tâm thành phố lớn với nhiều công việc hấp dẫn đƣợc tạo ra, do đó khu vực này luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt về việc làm, đòi hỏi ngƣời lao động phải có năng lực cao và kỹ năng chuyên nghiệp. “Cơ hội việc làm đối với ngƣời nhập cƣ: trong các thành phố ở các nƣớc đang phát triển, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đòi hỏi một lực lƣợng lao động lớn, lành nghề và giản đơn, phục vụ cho sự phát triển kinh tế. Chính nhu cầu sử dụng nguồn lao động tại các thành phố lớn đã mở ra cơ hội cho ngƣời sống trong các khu vực nông thôn hội nhập vào đô thị” [9, tr. Tại các khu vực trung tâm, luôn có sự tăng trƣởng kinh tế mạnh mẽ, cầu lao động thƣờng thiếu so với cung lao động, đã tạo ra lực hút mạnh mẽ đối với nguồn lao động tại các khu vực ven đô, khu vực có tốc độ phát triển kinh tế chậm hơn.
Những yếu tố về văn hóa ở nơi nhập cƣ nhƣ cuộc sống năng động, hiện đại cũng là yếu tố tạo ra động lực để ngƣời lao động nhập cƣ có quyết định thay đổi môi trƣờng sống. Sự quản lý lao động nhập cƣ dựa trên bản chất của nguyên nhân trong việc ra quyết định của ngƣời lao động nhập cƣ sẽ đem lại hiệu quả cao, những giải pháp đƣợc xây dựng sẽ bám sát thực tiễn, tạo điều kiện phù hợp để ngƣời lao động nhập cƣ phát huy đƣợc tất cả khả năng của mình. Hiểu rõ các yếu tố về lực đẩy và lực hút, từ đó có hƣớng giải quyết đồng thời hai khu vực xuất cƣ và nhập cƣ trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lao động nhập cƣ có chất lƣợng. Đối với khu vực xuất cƣ, để hạn chế việc di chuyển của ngƣời lao động cần tạo sự ổn định cả về mặt vật chất lẫn tinh thần với những chính sách ƣu tiên để ngƣời lao động gắn bó hơn 7 với nơi mình đang sinh sống.
Đối với khu vực nhập cƣ, nguồn lao động cần phải có kỹ năng chuyên môn cao, quản lý quy hoạch, đào tạo, sử dụng nguồn lực này một cách hiệu quả, phát huy các tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực. Mô hình “Hai khu vực” của Arthur Lewis đã đƣa ra những lý giải nguyên nhân về quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp ở một nƣớc đang phát triển. Arthur Lewis đã giả định trong nền kinh tế chỉ tồn tại hai khu vực đó là khu vực kinh tế nông nghiệp truyền thống và khu vực thành thị công nghiệp hiện đại. Tại khu vực kinh tế nông nghiệp truyền thống với phổ biến là lao động thủ công, tồn tại rất nhiều lao động dƣ thừa có đặc trƣng năng suất lao động cận biên rất thấp, gần nhƣ bằng 0.
Do đó, có thể rút lao động ra khỏi khu vực nông thôn truyền thống mà sản lƣợng nông nghiệp không giảm. Tại khu vực thành thị công nghiệp hiện đại với sự tập trung nhiều ngành sản xuất chế biến hiện đại, có năng suất lao động cao hơn nên mức lƣơng cao hơn khu vực kinh tế nông nghiệp. Đồng thời, đây cũng là khu vực có nhu cầu tăng thêm lao động để phục vụ tốc độ phát triển sản xuất. Nếu số lƣợng ngƣời lao động di chuyển từ nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất khác bằng với số lƣợng lao động dƣ thừa trong lĩnh vực nông nghiệp, phúc lợi và năng suất chung sẽ đƣợc cải thiện.
Tổng sản phẩm nông nghiệp sẽ vẫn không thay đổi trong khi tổng sản phẩm công nghiệp tăng lên do việc bổ sung lao động. 45-47] Một nghiên cứu nổi bật của Harris – Todaro về “Thu nhập kỳ vọng”. Từ hƣớng tiếp cận kinh tế học đã nghiên cứu hiện tƣợng lao động nhập cƣ từ nông thôn vào thành thị, tác giả giải thích về nguyên nhân quyết định của ngƣời lao động nhập cƣ dựa trên sự khác biệt về mức thu nhập dự kiến có đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị so với mức thu nhập trung bình đang có ở nông thôn. “Quá trình di chuyển từ nông thôn vào thành thị là tiền đề, đồng thời là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa” [9].
Điều này cho thấy rằng, sự nhập cƣ từ nông thôn vào thành phố lớn trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố cao có thể đƣợc lý giải về mặt kinh tế. Các dòng nhập cƣ đổ về khu vực thành phố sẽ đẩy dân số cơ học tăng cao, cùng với nó là sự cạnh tranh trong thị trƣờng lao động việc làm càng 8 trở nên gay gắt, đòi hỏi ngƣời lao động phải nâng cao trình độ năng lực bản thân, thích nghi đƣợc môi trƣờng sống mới. Đó cũng lý giải giữa việc di chuyển và học vấn có mối quan hệ tỷ lệ thuận, ngƣời học vấn cao thì khả năng di chuyển nhiều hơn. Với trình độ chuyên môn tốt những ngƣời lao động nhập cƣ di chuyển đến những nơi đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của họ.
Trong thời đại thông tin giữ vai trò vô cùng quan trọng trong mọi lĩnh vực cuộc sống, công tác quản lý lao động nhập cƣ cần gắn với các yếu tố về công nghệ số.Barnes đã nhấn mạnh tầm quan trọng của “Mạng lưới xã hội” trong công tác quản lý lao động nhập cƣ, trong đó mạng lƣới thông tin từ các mối quan hệ giữa cộng đồng ngƣời nhập cƣ đƣợc coi là nguyên nhân quyết định đến quá trình ra quyết định thay đổi môi trƣờng sống. Mạng lƣới xã hội có vai trò trực tiếp làm cầu nối và hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vì vậy quản lý lao động nhập cƣ dƣới góc độ quản lý công nghệ thông tin là hết sức quan trọng và cần thiết. Công nghệ thông tin sẽ giúp nhà quản lý đƣa ra những nhận định và giải pháp nhanh chóng, chính xác hơn nhờ hệ thống cơ sở dữ liệu, phần mềm quản trị thông minh. Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý lao động nhập cư Trong nghiên cứu “Từ nông thôn ra thành phố: Tác động KT-XH của di cư ở Việt Nam” của tác giả Lê Bạch Dƣơng và Nguyễn Thanh Liêm đã đề cập đến những tác động tích cực cùng với những tác động tiêu cực của nơi xuất cƣ và nơi nhập cƣ.
Đối với tác động tại nơi xuất cƣ, phần lớn ngƣời nhà của họ tại quê nhà có suy nghĩ tích cực đến các mặt phúc lợi gia đình, bao gồm thu nhập của hộ gia đình, điều kiện sống, sức khỏe và giáo dục của các thành viên trong gia đình cũng nhƣ địa vị xã hội của gia đình. Thu nhập và điều kiện sống đƣợc tăng lên, điều này cũng cho thấy sự quan tâm chủ yếu của gia đình đối với tác động về mặt kinh tế [4, tr.